KHI PARK HANG SEO KHÔNG THÍCH LUÂN LƯU

 
Tứ kết ASIAD, khi thời gian 2 hiệp chính càng lúc càng cạn, không ít người trong số chúng ta đã nghĩ về kịch bản cũ cách đây hơn nửa năm. Đó là Olympic Việt Nam sẽ cầm cự để dìu trận đấu về chấm 11m, chơi cuộc chơi luân lưu cân não, với niềm tin dựa vào đôi tay của Bùi Tiến Dũng. Ai cũng nghĩ người hùng Thường Châu sẽ tiếp tục chứng tỏ mình là vua bắt phạt đền Việt Nam và Park Hang Seo sẽ tiếp tục chơi lá bài cũ. Nhưng Park Hang Seo không muốn thế. Thực sự, nhìn vào cách Olympic Việt Nam đá, có thể nhận thấy rằng ông Park không muốn dựa vào cuộc chơi đau tim. Với ông, đó chỉ là cơ hội cuối cùng, khi không còn cơ hội nào khác nữa.
 
Phải thừa nhận, hiệp chính thứ nhất, Việt Nam giữ nhiều hơn là chiến. Quyết sách đó là đúng. Chúng ta không phải ở cùng đẳng cấp, có cùng sức mạnh như đối thủ. Và nếu nói nôm na là “nhồng lên mà đá” ngay từ sớm với Syria, rất có thể ta đã thua tan nát từ đầu. Ông Park muốn học trò chơi thật chắc, dù có nhiều thời điểm họ chưa cho thấy cái sự chắc cần thiết ấy. Song nói gì thì nói, họ đã gắng hết mình để tuân thủ chặt cách tiếp cận trận đấu mà ông thầy người Hàn Quốc đã đề ra.
 
40309774_317347362349257_7766937992442150912_o
Nhưng cách chơi của Việt Nam đã bắt đầu khác từ khoảng giữa hiệp 2, tức là khoảng sau phút 60. Trước trận cầu, ông Park từng có nhận định điểm yếu của đối thủ nằm ở cặp trung vệ. Tất nhiên, điểm yếu ấy là so sánh với phần còn lại của Syria chứ không có nghĩa rằng cặp trung vệ ấy quá yếu so với hàng công Olympic Việt Nam. Và ông chờ đợi đến đúng thời điểm để giải quyết trận cầu. Thời điểm đó chính là nửa cuối hiệp chính thứ 2. Đó là lúc Việt Nam bắt đầu tổ chức tấn công nhiều hơn, bắt đầu sử dụng những đường chuyền vượt tuyến, xuyên tuyến và đánh trực diện vào khe giữa cặp trung vệ hoặc giữa trung vệ và hậu vệ biên đội bạn. Thực ra, tình huống cụ thể nhất phải là cú dứt điểm của Văn Hậu. Nếu chính xác, năm 2018 này phải là của cậu bé ấy khi mới đây cậu cũng mới có một siêu phẩm từ vị trí dứt điểm tương tự. Nhìn cách sút của Hậu, có thể dễ thấy cậu chủ đích “gò” một cú dứt y chang như cậu từng làm ở trận gặp Oman. Đó chính là điểm cộng của Hậu. Dám nghĩ, dám làm ở thời khắc đó cho thấy cậu không hề sợ hãi đối thủ mạnh hơn mình và tâm lý đó, đáng mừng, là tâm lý chung của lứa U23 này. Không biết sợ thì mới có thể nếm mùi chiến thắng.
40213672_317347329015927_40372593798152192_o
 
Thời khắc quyết định nhất chính là khi Park Hang Seo thay Anh Đức vào sân. Rõ ràng, trên hàng công Olympic Việt Nam, không một ai hơn Anh Đức về khả năng chạy chỗ, tì đè và đặc biệt là tranh chấp bóng bổng. Phải thừa nhận Park Hang Seo quá tỉnh. Ở thời điểm hiệp phụ, ông nhận thấy Syria cũng xuống sức và khi đó, điểm yếu của họ (tức cặp trung vệ) sẽ càng yếu hơn. Điều gì phải đến cũng đã đến. Cú chuyền vượt tuyến của Dũng Viettel nhắm thẳng vào Anh Đức và chính sức mạnh tì đè, độ tinh quái của một cầu thủ dày dạn kinh nghiệm đã giúp Đức loại hậu vệ đối thủ. Cú rướn chích bóng của Đức dù là một nỗ lực khó có khả năng mang lại một pha dứt điểm chuẩn xác nhưng rõ ràng nó có ý đồ. Và thời khắc ấy, cái “bàn thờ” (xà ngang) cũng chỉ cứu Syria được một chớp mắt. Trung vệ bị Anh Đức loại đã ở sau lưng anh. Hậu vệ theo Văn Đức đã bị Văn Đức đánh lừa và di chuyển theo hướng hút về cầu môn thay vì phải đeo bám Văn Đức. Còn Văn Toàn, tốc độ của cậu đã giúp cậu dễ dàng loại cầu thủ theo kèm ngay từ đầu và việc tiếp bóng vào khung thành trống chỉ còn là chuyện đóng dấu “seal” lên chiếc bì thư gửi vé đưa Syria về nhà.
 
Tất cả các toan tính từ nửa sau hiệp chính thứ hai, được cụ thể hoá bằng các pha đánh đồng dạng nhau, đã chứng minh Park Hang Seo không hề muốn chơi luân lưu như chúng ta vẫn nghĩ. Và có lẽ, chính các đối thủ “đọc vị” Park Hang Seo cũng bất ngờ khi ông cầm một đội yếu hơn mà lại không chủ động cù cưa, tử thủ, đóng xe bus để chờ cân não luân lưu. Rõ ràng, Syria không chuẩn bị cho phương án Việt Nam phản kích mạnh ở cuối thời gian thi đấu hiệp 2 và hai hiệp phụ. Điều đó cho thấy, khi lâm trận, chọn thời điểm ra đòn quyết định quan trọng đến mức nào.
 
40290505_317347339015926_3721974330356137984_o
Nói đến thời điểm, chúng ta cũng nên nhớ rằng ghi bàn vào lưới Syria chỉ là một thời điểm mà thôi. Và chúng ta đừng vì một thời điểm hào khí ấy mà quên rằng trong cả trận cầu, chúng ta có nhiều thời điểm để Syria có khoảng trống tạo ra các cơ hội cực nguy hiểm. May mắn là Syria không có một hàng công sắc bén. Đặc biệt, họ không có những chân sút xa xuất sắc. Olympic Việt Nam nhiều lần để trống vị trí trực diện khung thành ở khoảng cách 20-25m. Nên nhớ, Hàn Quốc dứt điểm ở cự ly ấy cực tốt. Và một bài học nữa có lẽ cũng không nên quên. Thực chất, trước Syria, quyết tâm của ta rất cao nhưng chúng ta chơi pressing vẫn chưa tốt một chút nào.

SARRI-BALL ĐÃ CÓ. SARRISMO VẪN CHƯA.

Trong kỷ lục thời gian kiểm soát bóng của một đội khách ở Premier League tính từ mùa 2003/04 tới nay, Man City vẫn đang là đội bóng dẫn đầu, với trận gặp Everton hồi 31/03/2018 vừa rồi. Ở trận thắng 3-1 ấy, Man City cầm bóng 81.98% thời gian, một con số có thể nói là kinh hoàng.
 
Đêm chủ nhật (26/08/2018), Chelsea của Maurizio Sarri đã tiệm cận con số của Man City khi cầm bóng áp đảo trước Newcastle. Cầm bóng đến 81.09% thời gian, số liệu cho thấy Sarri đã bắt đầu tạo dựng được 1 diện mạo Chelsea mới mẻ, một diện mạo Chelsea mà có lẽ Abramovich cũng mong muốn. Sự áp đảo đó, so sánh với triết lý mà Sarri dày công vun đắp ở Napoli, khiến chúng ta có thể nghĩ rằng đã bắt đầu thành hình cái gọi là Sarri-ball ở Chelsea sau 3 trận mở màn Premier League.
 
Nhắc đến Sarri-ball, tức triết lý chú trọng vào việc kiểm soát bóng nhờ những đường bóng ngắn mà Maurizio Sarri theo đuổi, hẳn nhiều người sẽ nghĩ tới Pep Guardiola, tới tiki-taka. Nhưng phải chăng Sarri-ball là một dạng tiki-taka kiểu Ý? Hiểu vậy cũng không sai. Nhưng hiểu vậy cũng chẳng đúng.
 
Tiki-taka, tiếng tích tắc của quả lắc đồng hồ, là một mô tả tượng âm, tượng hình đầy sinh động về triết lý Barca. Việc qủa bóng di chuyển liên tục giữa các cầu thủ chơi tiết kiệm động tác, di chuyển trong các quãng ngắn đã khiến người ta dễ liên tưởng đến quả lắc đồng hồ. Và thứ bóng đá mà Sarri tâm đắc cũng chú trọng vào các đường chuyền ngắn như thế để duy trì kiểm soát bóng. Thêm vào đó, Sarri cũng thích chơi với tốc độ cao, tức là các pha đập nhả cũng phải được thực hiện liên tục, điều cũng đòi hỏi các cầu thủ phải tiết kiệm động tác và không rườm rà. Nhưng thứ bóng đá của Sarri khác hẳn với thứ bóng đá của Barca. Điểm khác cơ bản nằm ở một thứ: hướng di chuyển của bóng.
 
Ở Barca ngày xưa, và ở Man City hôm nay, Pep trung thành với việc kiểm soát kỹ lưỡng số lượng đường chuyền ngắn tối thiểu để duy trì hình thái, kết cấu đội hình trước khi phát động tấn công. Nếu bóng bắt đầu được phát động từ hàng thủ, Pep luôn đòi hỏi phải có tối thiểu 15 đường chuyền ngắn trước khi được định hướng lên trên. Còn nếu bóng đang ở một bên sân, trước khi phát động tấn công bằng cách chuyển cánh đột ngột, Pep cũng đòi hỏi phải có tối thiểu 7-8 đường chuyền ngắn qua lại. Tất cả đều nhằm mục đích: đội bóng định hình hình thái, kết cấu trong khi đối thủ bắt đầu trở nên xộc xệch, bị phá vỡ cấu trúc chặt chẽ vốn có của mình.
 
Còn với Sarri, chuyền ngắn và nhanh theo cách của ông là phải hướng lên trên, với những đường chuyền theo trục dọc hoặc chuyền chéo. Khi đối thủ mất cân xứng, lúc đó mới phát động bằng những cú chuyền xuyên tuyến hoặc những cú chọc khe. Và chân chuyền chủ yếu mà Sarri tận dụng chính là Jorginho, cầu thủ ông không tìm được ai tương tự (tính cho đến lúc này) nên phải mang anh sang từ Napoli. Mỉa mai thay, Jorginho lại chính là người mà Benitez “không ưng” khi ông cầm quân tại Napoli. Chính vì ông mà Jorginho suýt nữa phải ra đi và suýt nữa thì Sarri-ball ở Napoli lẫn Chelsea phải chậm lại mất mấy nhịp mới có thể định hình.
 
Trước Newcastle, theo thống kê của Daily Mail, Jorginho chuyền 173 đường chuyền mà trong đó chỉ có 1 đường chuyền dài. Còn theo thống kê của Telegraph, Jorginho chỉ có 154 đường chuyền cả trận. Theo thống kê nào thì cũng vậy, số đường chuyển của cả đội Newcastle trận đó chỉ có 131 mà thôi và sự vượt trội về thống kê của Jorginho cho thấy một điều: anh chính là át chủ bài của Sarri khi xây dựng Chelsea.
 
Chính vì át chủ bài Jorginho mà Sarri đã để Kante chơi ở vị trí khác hẳn so với những mùa trước cũng như so với chính Kante ở ĐTQG. Vai trò của một deep lying playmaker đã được giao vào tay Jorginho và Kovacic, Kante được chơi cao hơn, ở vị thế của những tiền vệ trung tâm đơn thuần. Và Jorginho đã cho thấy hiệu quả của anh là như thế nào. Đúng theo yêu cầu của Sarri, như ông đã từng thực hiện ở Napoli, Jorginho góp phần cấu thành một tam giác rất gắn kết với cặp trung vệ Luiz và Rudiger (xem hình Chelsea 01). Đó chính là tam giác phát động của Chelsea, di chuyển rất gần nhau và đặc biệt luôn dâng cao để dồn đối thủ về phần sân của họ.
40158717_316912675726059_5698397449660399616_o
 
Benitez thừa hiểu Sarri là như thế nào và chất lượng của Jorginho ra sao. Chính vì thế, có khá nhiều pha bóng phía Newcastle chủ động áp sát thẳng vào Jorginho khi anh nhận 1 đường bóng khó, và cũng khiến Jorginho phải để mất bóng. Song, chính vì cự ly của Jorginho với cặp trung vệ cũng như với đối tác Kante-Kovacic là rất gần nên những lần mất bóng ấy đều không mang lại rủi ro. Lợi ích của việc chuyền bóng ngắn nằm ở chỗ đó. Nó giữ cự ly đội hình sát nhau và giúp cầu thủ mất bóng luôn có đồng đội bọc lót kịp thời.
 
Song song đó, Benitez chủ động để đội hình chơi thấp, lui về phía sau quả bóng (theo hướng tấn công của Chelsea) và tạo thành một khối cô đặc mà người ta vẫn hay gọi là xe bus. Khối cô đặc đó chính là mấu chốt giúp chúng ta nhận ra rõ diện mạo của Chelsea lúc này. Đó là một Chelsea bắt đầu biết kiểm soát bóng kiểu Sarri-ball nhưng chưa cấu thành được triết lý Sarrismo. Đơn giản, kiểm soát bóng mà không thể cụ thể hoá thành bàn thắng thì chưa phải là hiệu quả. Chelsea thắng Newcastle 2-1 nhưng đó là một chiến thắng vất vả, một chiến thắng cho thấy hàng công còn phải cải thiện rất nhiều.
40167779_316912662392727_7092381187825467392_n
 
Nếu xem hình minh họa Chelsea FC 02 và Chelsea FC 03, chúng ta sẽ nhận thấy những điều còn thiếu hợp lý ở hàng công của đội quân trong tay Sarri. Hai hình minh họa ấy mô tả “vị trí bình quân” của các cầu thủ Chelsea trong suốt trận gặp Newcastle. Nó chỉ ra rằng Pedro và Hazard vẫn chưa thể có những đường di chuyển lòn xuống phía sau lưng hàng thủ đối phương (như hình Chelsea FC 04 minh hoạ) để đón những đường chọc khe sắc bén hoặc những đường chuyền xuyên tuyến đã thành thương hiệu của Jorginho ở Napoli.
 
Lý do cơ bản không phải do họ không có khả năng di chuyển như thế mà đến cả từ khách quan. Hazard thừa thông minh để di chuyển xuống khu vực vùng đệm (half space) sau lưng hàng thủ Newcastle nhưng chính việc Morata không biết di chuyển rộng kéo giãn hàng thủ đối phương đã khiến Hazard không có đất diễn. Nhìn vào bản đồ nhiệt của Morata, chúng ta cảm nhận rằng dường như anh đang chơi như một trung phong mục tiêu (target man) hơn là một đối tác hàng công biết mở ra không gian cho đồng đội. Trong khi đó, Pedro vẫn dựa vào thói quen bám biên và nhiều khi chính anh đã đặt mình vào vị trí bất lợi là cùng nằm trên một đường thẳng ở vùng ít cơ hội (low option) cùng với Azpilicueta.
40187793_316912665726060_8803588590543044608_n
 
Khi Willian vào sân, với khả năng cắt vào trong rất tốt của mình, Willian đã khai thác khá tốt được vùng đệm. Tuy nhiên, pha phối hợp hỏng giữa Oliver Giroud và anh đã khiến Chelsea mất một cơ hội ăn bàn rất đẹp. Đó chính là tình huống Chelsea tổ chức tấn công nhanh sau khi cướp được bóng từ sân nhà. Kante talon rất đẹp để Willian có bóng, dấn thẳng xuống vùng đệm. Nếu ở pha bóng ấy Giroud khéo léo hơn, rất có thể tỷ số đã là 3-1, một tỷ số thể hiện đúng sự áp đảo của Chelsea.
 
Sarri-ball đã hình thành ở Chelsea, khi đội bóng kiểm soát bóng rất tốt với vai trò nổi bật của Jorginho. Nhưng Sarrismo vẫn chưa lộ diện. Nó còn chờ đợi vào khả năng cải thiện mình của Morata, của Pedro để cùng Hazard tạo thành mũi đinh ba thực thụ trên tuyến tấn công. Tất nhiên, để cải thiện không phải ngày một ngày hai, và chúng ta cần kiên nhẫn chờ đợi. Ít ra, ở Chelsea đã và đang có những dấu hiệu tích cực tươi mới thực sự. Dù gì, Sarri cũng mới chỉ tới Chelsea được 42 ngày (tính đến ngày 27/08/2018). Trong 42 ngày ấy, ông chỉ dành cho mình duy nhất 1 ngày thăm thú London. Còn lại, tất cả là dành cho Chelsea, với sự nóng ruột hơn bao giờ hết. Dễ hiểu, ông nóng ruột cũng phải thôi, bởi Sarrismo có một đặc điểm là luôn đẩy đội hình lên rất cao, và bởi thế dễ gặp mạo hiểm khi bị phản công. Hai bàn thua trước Arsenal và 1 bàn thua trước Newcastle là cảnh báo. Nếu Sarrismo không kịp hình thành, tức là hiệu quả bằng bàn thắng của kiểm soát bóng chưa có, trả giá là điều khó tránh khỏi. Bởi vậy, chúng ta chắc chắn sẽ được thấy một Chelsea bị Maurizio Sarri đòi hỏi nhiều hơn nữa, hơn nữa.
 
Còn chúng ta, có lẽ chúng ta cũng hơi tiếc. Giá như ở mùa Hè vừa rồi Sarri được Abramovich tặng 1 tiền đạo ưng ý thì giờ này chắc người ta sẽ nói đến Sarrismo rất nhiều. Nhưng nói gì thì nói, bây giờ họ vẫn đang có 9 điểm, vẫn đang ở top dẫn đầu. Mùa bóng dẫu còn dài nhưng khởi đầu đó khó ai có thể chối từ rằng nó là một động lực cực lớn.
40152153_316912729059387_5892973804770033664_o

KHÔNG CÓ CÁI GỌI LÀ ‘PRESSING TẦM CAO’

39875553_312943976122929_4761248848532209664_n

Mở TV lên, xem một trận cầu, thứ các bạn rất cần, và có thể nói là không thể thiếu, chính là âm thanh của cuộc chơi. Âm thanh ấy có thể là tiếng hát, có thể là tiếng hò hét cổ vũ, có thể đơn giản chỉ là tiếng “pọch” của cú sút vào quả bóng khi vị trí dứt điểm ở gần với micro thu âm. Bạn có thể thích tiếng này hơn tiếng kia, nhưng bạn không thể ghét bất kỳ một âm thanh nào liên quan đến trận cầu. Nó chính là không gian, là khí quyển, là hơi thở của bóng đá. Bạn thích tiếng nào nhất, đó là cảm nhận của bạn. Còn tôi, tôi thích tiếng “păng” căng, chắc, gọn ghẽ, uy lực của những cú dứt điểm mạnh mẽ dội xà ngang hay bật cột dọc. Với tôi, đó là âm thanh của đe doạ, âm thanh báo hiệu một cuộc chơi chắc chắn nhiều điểm nhấn.

Và trong vô vàn thứ âm thanh trào ra từ TV trong một trận cầu trực tiếp, không thể nào không có tiếng của BLV. Chúng ta đừng vội vàng chê bai họ, bởi công việc của họ rất khó khăn. Trong chiếc cabinet bé nhỏ, trước màn hình cũng chẳng lớn hơn màn hình của bạn, họ phải căng mắt, tập trung cao độ, soạn ý trong đầu, ứng khẩu ngay thành những lời bình luận. Và ở trường hợp ấy, sai sót là điều không thể tránh. Ở cương vị của tôi, tôi tự thừa nhận mình không thể nào đủ khả năng, thậm chí có thể sẽ nín thinh, khi phải ngồi vào cabinet bình luận 1 trận cầu. Dù rằng, rất mỉa mai, tôi đã từng có hai lần (năm 2012 và 2014), đứng lớp ở các buổi training ngắn cho những BLV tương lai.

Nhưng thể tất cho những sai sót không có nghĩa là chúng ta không nói lại cho đúng những gì đang diễn ra đầy sai lầm trên truyền hình hôm nay. Xavi có nói rằng “trong hơn 95% dân số trên thế giới là những người mê bóng đá, chỉ có 2% thực sự hiểu bóng đá. Tôi có người bạn thân, anh ta có thể kể vanh vách mọi chi tiết, lịch sử, những sự kiện, những trận đấu nhưng thực tế, anh ta chả biết gì về bóng đá cả”. Con số của Xavi đưa ra chỉ là một bật-ra-cảm-tính chứ không thể nào có một thống kê chính xác có bao nhiêu % người hâm mộ hiểu về bóng đá. Nhưng nhận định của Xavi thì chuẩn. Số người hiểu về bóng đá thực thụ rất ít, dù rằng họ mê nó vô cùng.

Chẳng có gì phải xấu hổ nếu bạn không hiểu về bóng đá. Sẽ chỉ xấu hổ nếu ta nói mình mê bóng đá nhưng thực chất ta chẳng có cái tình yêu ấy trong tim. Cũng giống như bạn mê âm nhạc, bạn có thể đắm mình trong giai điệu, ca từ của một ca khúc nhưng bạn thực sự không hề hiểu nó được viết theo thể loại nào, ở nhịp nào, tốc độ ra sao, các tính năng nhạc cụ được sử dụng trong bài phối khí. Giữa mê say và hiểu biết là hai khái niệm khác nhau, dù rằng sự say mê có thể dẫn con người ta tới với tìm tòi và hiểu biết.

Nhưng nếu bạn là một người BLV, được xem như một “chuyên gia” bóng đá rồi, bạn không thể truyền bá một thứ “không chuẩn xác”. Dễ hiểu, sẽ có những khán giả tin vào bạn, và từ cái sai của bạn, nó sẽ biến thành một cái sai cộng đồng và nguy hiểm ở chỗ, khi cái sai cộng đồng đủ số đông, nó thành mặc định đúng thì tác hại của nó là vô cùng.

Gần đây, chắc hẳn chúng ta vẫn được nghe rất nhiều cụm từ “pressing tầm cao” từ miệng các BLV bóng đá. Tôi đã ngỡ ngàng khi được nghe nó lần đầu tiên, và tôi ngỡ ngàng hơn khi chứng kiến những trận đấu mà ở 10 phút đầu, đội A cầm bóng áp đảo tấn công đội B, BLV thản nhiên nhận xét rằng “A đang chơi pressing toàn sân rất hiệu quả ngay từ đầu”.

Điều đó cho thấy, thực sự, đang có một sự hiểu sai về pressing. Chính vì sự hiểu sai ấy mới dẫn đến cái nhận định sai mang tên “pressing tầm cao”. Tôi có thể khẳng định rằng, không có cái gọi là pressing tầm cao như thế và tôi cũng mong tất cả những bạn đọc của mình cùng hiểu rằng đó là một khái niệm tưởng tượng hoàn toàn trong bóng đá, tính ra là đến năm 2018 này.

Trước tiên, muốn hiểu thật kỹ, chúng ta cần phải hiểu khái quát pressing là gì đã. Thực chất, pressing không phải là một hành động đơn lẻ, nó là một tổ hợp các hành vi tác chiến chiến thuật từ cá nhân đến tập thể và tổ hợp đó được lên kế hoạch, hoạch định từ trước một cách khoa học. Tổ hợp hành vi tác chiến được gọi là pressing này được thực hiện khi và chỉ khi đội nhà đang không cầm bóng, với một mục đích duy nhất: để bóp nghẹt thời gian, không gian chơi bóng của đối thủ ngõ hầu đoạt lại bóng một cách nhanh nhất.

Pressing vì thế sẽ bao gồm các hành vi: quây, be, che chắn, tắc bóng, áp sát, cắt bóng, phong tỏa các khả năng chuyền bóng, di chuyển vị trí hướng đến điểm nóng (điểm đối phương cầm bóng) để cân bằng hoặc tạo ưu thế về quân số. Việc pressing vì thế được lên kế hoạch rất khoa học và kỹ lưỡng. Ví dụ, trước khi đá với Real Madrid chẳng hạn, đối thủ của họ sẽ phải phân tích khả năng mạnh yếu của từng cầu thủ Real trong việc khống chế bóng bổng, sệt, ở các không gian khác nhau trên sân; phân tích cách chơi bóng, thói quen chuyền bóng của các cầu thủ Real, đặc biệt là các trụ cột như Modric, Casemiro, Asensio… Tìm hiểu kỹ đối thủ rồi, họ mới có thể lên một kế hoạch hoàn hảo nhất có thể để khi ra sân, họ biết phải làm gì (như một phản xạ tự nhiên) để nhằm đoạt lại bóng từ những đối thủ mà mình đã học thuộc bài.

Trong pressing, người ta cũng phân loại ra nhiều loại pressing khác nhau, từ pressing toàn sân, pressing theo tuyến, pressing theo khu vực, pressing theo nhóm và pressing cục bộ. Và pressing thực sự rất khoa học ở chỗ nó coi sân bóng như một bàn cờ vây vậy. Bạn nào chơi cờ vây rồi sẽ hiểu mỗi quân cờ còn “sống” đều còn “khí”, tức là hướng phát triển của nó. Khi đã bị phong tỏa hết các tuyến, quân cờ ấy coi như hết “khí” và đã chết. Tình huống cầu thủ cầm bóng trên sân cũng vậy. Nếu có bóng ở khu vực giữa sân, rõ ràng hướng phát triển bóng của bạn là 360 độ. Còn nếu ở sát đường biên, bạn chỉ còn trước mặt, sau lưng và bên trái/phải. Chính vì thế, cầm bóng ở biên thì ít “khí” hơn là ở trung tuyến. Bởi vậy, các đội bóng khi dồn ép, quây đối thủ đang có bóng luôn có xu hướng đẩy kẻ cầm bóng vào những chỗ ít “khí” nhất. Việc cố gắng buộc đối thủ phải dạt ra biên nhiều hơn, tức dạt ra vùng “low option”  đã khiến sân đấu chia thành 2 nửa: “strong side” – nơi bóng đang hoạt động – và “weak side” – nơi không có bóng. Chính vì việc sân bóng chia thành hai nửa như thế dẫn tới quân số sẽ bị dồn sang phía “strong side”. Và đó là chìa khóa để những đội bóng giỏi chuyển hướng tấn công bất ngờ như những CLB mà Pep Guardiola dẫn dắt có thể gặt hái được thành công khi phá thế pressing mà đối thủ đặt ra trước mắt mình.

Nhưng dù có phân loại khác nhau nhiều thế nào đi nữa thì tổng thể, pressing vẫn được chia thành 3 kiểu chính dựa trên 3 khu vực trải dài trên sân lần lượt là Defensive Pressing (pressing tuyến thủ -tạm dịch); Offesive Pressing (Pressing tuyến công) và Ultra Offensive Pressing (Pressing cực đoan -tạm dịch). Xem hình minh hoạ đi kèm, có thể các bạn sẽ mù mờ nhận ra rằng rất có thể cái gọi là “pressing tầm cao” mà các BLV nhắc đến chính là cái Ultra Offensive Pressing này. Cũng có thể lắm. Nhưng thực tế, giữa ultra offensive pressing và high pressure là hai khái niệm khác nhau. Giữa chúng, tuy có những điểm chồng lấn nhưng vẫn thực sự không hoàn toàn là 1. Và vì thế, không thể có cái gọi là “pressing tầm cao” mà chỉ có “pressing tuyến tấn công cực đoan” tạm dịch rút gọn là “Pressing cực đoan” hoặc tạo áp lực từ tuyến trên (High-Pressure) mà thôi.

Cơ bản, theo định nghĩa của Dan Blank trong cuốn High-Pressure xuất bản hồi 2017 thì pressing là hành động tạo áp lực lên những người cầm bóng và nó có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào trên sân. Trong khi đó, tạo áp lực từ tuyến trên lại là những nỗ lực mang tính hệ thống, có tầm nhìn với mục đích xa hơn, để tước đoạt bóng ngay tại 1/3 sân đối thủ. Pressing là những hành vi diễn ra trong các khoảnh khắc còn high-pressure là mưu lược rõ ràng.

Mưu lược ấy là gì? Rõ ràng, high-pressure có tầm nhìn mục đích xa hơn pressing. Nếu pressing chỉ là nỗ lực lấy lại bóng và khi bạn lấy được bóng, coi như nỗ lực pressing đã tựu thành thì high-pressure xác định rõ việc tước đoạt bóng ở 1/3 sân đối thủ cũng lập tức mở ra cơ hội ghi bàn cho đội nhà. Đặc biệt, khi bóng đá hiện đại chú trọng phần xây dựng lối chơi (build-up) ngay từ hàng thủ, việc chơi high-pressure chắc chắn sẽ không chỉ chặn đứng đối phương xây dựng lối chơi mà còn có thể mở cửa chiến thắng. Đơn giản, ở phần 1/3 sân đối phương, những cầu thủ đoạt được bóng trong chân địch đều là các cầu thủ tấn công và sáng tạo. Với việc lấy lại được bóng ở một không gian cục bộ như thế, tình huống xảy ra sẽ luôn là 2 vs 2 hoặc 3 vs 3 và nếu chơi linh hoạt vị trí (positional play) tốt, một cầu thủ tuyến tiền vệ băng lên tạo áp lực quân số lúc đó có thể khiến đội bóng chuyển ưu thế thành 3 vs 2 hoặc 4 vs 3.

Quay nguợc lại với pressing, thường thì HLV sẽ là người lên kế hoạch cho trận đấu và ở tình huống đội mất bóng vào chân đối thủ, HLV sẽ có các nguyên tắc khác nhau, lựa chọn khác nhau. Thứ nhất, ông có thể để cho đội bóng của mình tổ chức tạo áp lực ngay để giành lại bóng một cách nhanh nhất. Thứ hai, ông có thể quyết định lựa chọn khu vực nào ở trên sân mới là điểm quyết định để đội bóng của mình bắt đầu chơi pressing. Thứ ba, ông có thể quyết định các kỹ năng phòng ngự nào sẽ được sử dụng thường xuyên nhất để đoạt lại bóng như bọc lót, phán đoán cắt bóng, hai người áp sát 1 người… Thứ tư, quyết định lựa chọn những khu vực nào trên sân để dồn đối thủ phải chơi bóng thường xuyên ở đó nhất. Thứ năm, xây dựng các kế hoạch dự phòng cùng chỉ dẫn cụ thể cho nó để sử dụng khi chiến lược cơ bản không thể ứng dụng. Thứ sáu, xác định rõ các giải pháp khả thi để xử lý các tình thế quan trọng nhất mà đối thủ đang cầm bóng. Rõ ràng, trong tất cả các lựa chọn kể trên, chúng ta đều nhận thấy nó mang hơi hướng phòng vệ, với mục tiêu chủ yếu là lấy lại quyền kiểm soát bóng. Không có các chỉ dẫn nào liên quan đến phản kích, thứ mà high-pressure chú trọng tới. Do đó, nếu có điểm chung nào giữa high-pressure và ultra offensive pressing, chúng ta chỉ có thể nói rằng high-pressure CŨNG CÓ THỂ là việc tổ chức pressing cực đoan ở những khu vực cụ thể phía 1/3 sân đối thủ và tổ chức tấn công nhanh ngay sau khi việc pressing ấy tựu thành.

Vậy thì tại sao các chuyên gia nước ngoài không sử dụng thuật ngữ high-pressing, hay nôm na như chúng ta gọi là “pressing tầm cao”?. Thực tế, high-pressure chưa chắc đã phải có pressing trong đó bởi nếu hành vi đoạt bóng là tự phát thuận theo tình huống thì nó không phải là pressing (vốn dĩ là tổ hợp hành vi được lên kế hoạch trước). Nhưng nên nhớ, cái tự phát nếu có của high-pressure không phải là kiểu hứng lên chơi năm ăn năm thua mà nó là những kỹ năng được luyện nhuần nhuyễn thành phản xạ. Khi phản xạ trở thành có điều kiện, và được thực hiện đồng điệu bởi các cầu thủ đồng tuyến, nó sẽ thành lối chơi.

Như vậy, chắc chắn sẽ không có cái gọi là “Pressing tầm cao” như chúng ta vẫn được nghe. Pressing là pressing; tạo áp lực là tạo áp lực. Còn tầm cao hay không, nó chính là tầm nhìn của HLV, của cầu thủ chứ không chỉ là vị trí tranh chấp quả bóng đơn thuần

(Về pressing, các bạn có thể đọc thêm tham khảo bài mình viết đã lâu ở link này https://www.facebook.com/search/top/q=Minh%20Quang%20Hà%20pressing%20)

VỀ MOURINHO: KHI SAI LẦM CỦA LỊCH SỬ KHIẾN MOURINHO PHÁ VỠ NGUYÊN TẮC CỦA CHÍNH MÌNH

39580554_310800806337246_9064928971023450112_n
Một trận thua chẳng đủ nói lên điều gì. Man United trước khi Mourinho tới cũng đã từng thua những trận bẽ bàng rồi. Man United ở thời Ferguson cũng từng thua những trận đáng hổ thẹn. Chẳng có một thiện xạ nào trên đời này dám tự tin mình chưa bao giờ bắn trượt. Và sẽ không ai nhìn vào một lần bắn trượt để rồi phê phán bằng cảm tính cả một quá trình.
 
Nhưng lần “bắn trượt” ở Brighton của Mourinho hôm qua lại có thể là một điểm để mổ xẻ một quá trình, mà trong đó, lỗi của khách quan cũng có. Mourinho vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân của thất bại. Chỉ có điều, ông ta có biết mình là nạn nhân hay không mà thôi.
 
KHI MOURINHO BẺ GÃY NGUYÊN TẮC CỦA MÌNH
 
Trước khi vội vàng phê bình, chê bai, khen ngợi, cổ vũ cả Mourinho lẫn những dòng tôi viết trên này, chúng ta hay hượm lại cùng nhau, chậm lại một chút, để trả lời câu hỏi: “Bạn có biết Vitor Frade là ai không?”.
 
Tra cứu có thể giúp bạn biết được Vitor Frade là một người Bồ Đào Nha, sinh năm 1944, có liên quan đến bóng đá. Chấm hết. Thành tích? Không tìm ra. Thành tựu? Không tìm ra. Nhưng ghi nhận? Có thể bạn sẽ tìm thấy nó bằng cách nào đó.
 
Ngắn gọn, Vitor Frade được coi là một professor nhiều hơn là một HLV bóng đá. Ông ta được tôn lên bậc thầy của Mourinho, Villas-Boas, Vitor Pereira… Thứ ông ta tạo ra gắn rất chặt với bóng đá hiện đại ngày hôm nay, và nó được gọi tên là “Học thuyết chu kỳ hoá chiến thuật” với trọng tâm chủ yếu là các phương thức chiến dịch hoá cách chơi bóng thông qua việc kiến tạo nên mô hình trận đấu (Game Model). Học thuyết này không chỉ liên quan đến những gì diễn ra trên sân, với các phương án chiến thuật, nhân sự… đơn thuần mà nó còn gắn liền với cả những hoạt động chuẩn bị cho trận đấu từ nhiều ngày trước đó.
 
Theo lý thuyết của Vitor Frade, việc tập luyện phải dẫn tới mục tiêu học và hiểu cách chơi bóng nhất định bởi vì bất kỳ lối chơi nào cũng đều có thể khái quát lại thành phương pháp luận. Việc áp dụng “chu kỳ hóa” trong huấn luyện chính là nền tảng cho việc lên ý tưởng trận đấu và tổ chức nó thành các phương pháp có hệ thống nhằm mục đích chiến dịch hoá ở cấp độ nhóm, khu vực, liên khu vực, phân cấp trong khu vực và cả cấp độ cá nhân. Nói theo Frade, “chu kỳ hóa” giúp đưa ra những yêu cầu mạch lạc cho việc cụ thể và chi tiết hoá ý tưởng chơi bóng.
 
Với nhiều nguyên tắc và tiêu chuẩn, để nói về chu kỳ hoá chiến thuật của Frade sẽ phải mất rất nhiều thời gian và biên soạn thành cả 1 giáo trình. Nhưng cụ thể, ở việc huấn luyện, phân chia thời gian huấn luyện, chúng ta có thể thấy nó khoa học ra sao. Ngày thứ Hai đầu tuần, với Frade, đó là ngày nghỉ. Thứ ba: ngày hồi phục cụ thể với các bài tập rõ ràng trong thời gian ngắn, điển hình như bài 3 vs 3. Thứ tư là ngày của các nguyên tắc phụ và nguyên tắc phụ của phụ nhằm tăng cường sức mạnh cơ bắp. Thứ năm, ngày của các nguyên tắc bao trùm và nguyên tắc phụ của nó nhằm tăng cường sức bền cơ bắp. Thứ Sáu: ngày của các nguyên lý phụ nhằm tăng cường tốc độ. Thứ Bảy là ngày hồi dưỡng và kích hoạt hoá. Chủ nhật, tất nhiên, đó là ngày ra sân.
 
Các nguyên tắc kể trên, khi không được diễn giải chi tiết, sẽ làm lỗ tai chúng ta lùng bùng. Nhưng nó là khoa học và thứ khoa học ấy Mourinho đã theo đuổi suốt cả sự nghiệp của mình. Đòi hỏi của Frade là cầu thủ đã ra sân phải đạt được tối đa (tương đối) cường độ và sức mạnh của mình. Các đội bóng Mourinho từng trải qua đều chơi bóng như thế, với cường độ và sức mạnh khủng khiếp. Đó chính là do Mourinho tuân thủ cực nghiêm ngặt nguyên tắc của Frade, nguyên tắc mà Mourinho được học và thấm nhuần từ khá sớm và áp dụng nó lần đầu tiên khi huấn luyện Porto.
 
Bây giờ chúng ta quay lại với trận đấu vừa rồi của Man United. Nếu nhìn lại những pha bóng của Man United, chúng ta nhận ra rằng có những cầu thủ áo đỏ không có được cường độ và sức mạnh tối đa (tương đối) theo mục tiêu đề ra của học thuyết chu kỳ hoá chiến thuật. Chính sự bạc nhược này làm Man United thất bại, chứ không chỉ là những sai lầm đơn thuần. Khi thể lực không đạt được tối ưu, độ rướn sẽ kém hẳn, và khả năng thi triển những kỹ năng cá nhân cũng bị ảnh hưởng trầm trọng. Nói tóm lại, họ (các cầu thủ Man United) đã không thể trình diễn (perform) được thứ bóng đá theo đúng yêu cầu Mourinho đề ra.
 
Trong lý thuyết chiến thuật của mình, Mourinho luôn đòi hỏi phải có động thái tạo áp lực ngay lập tức khi vừa mất bóng. Song song với việc đó, khi có bóng, ông luôn yêu cầu phải có ít nhất 1 cầu thủ “an toàn” (safety player) ở phía sau lưng và xung quanh người cầm bóng. Đặc biệt, Mourinho chú trọng đến cầu thủ an toàn sau lưng người cầm bóng để nếu người cầm bóng ấy để mất bóng, chính cầu thủ an toàn này là đối tượng đầu tiên tham gia tạo áp lực. Ngoài ra, cầu thủ an toàn cũng là phương án để người cầm bóng chuyền về khi gặp tình huống khó khăn. Và nếu xem lại trận thua Brighton hôm 19/08/2018 vừa rồi, chúng ta có thể nhìn thấy nhiều tình huống, cầu thủ an toàn của Mourinho đã mất tích. Cụ thể, ở đầu hiệp 2, có 1 tình huống Pogba lùi sâu về và có bóng chếch sang phía biên trái. Phía Brighton tạo áp lực bằng 2 cầu thủ lao vào áp sát và phong toả. Pogba, với kỹ thuật cá nhân rất tốt, chuyền bóng vào trung lộ (phương án mạo hiểm nhưng lại là duy nhất lúc này) cho Bailly. Bailly mất hai nhịp mới khống chế được bóng và suýt nữa mất bóng khi đối thủ lao lên tạo áp lực. Xem lại, ta thấy họ hoàn toàn đơn lẻ, bị chia cắt và không hề an toàn. Chúng ta có thể khen Brighton đã chơi tốt nhưng phải thừa nhận, chính sự bạc nhược của các cầu thủ Man United đã tạo điều kiện cho Brighton làm vậy.
 
Bây giờ, chúng ta quay lại với câu chuyện của Pogba. Tất cả chúng ta đều thấy rõ, Pogba đang chơi dưới phong độ ở Man United. Đổ lỗi ư? Trở về muộn sau World Cup, không có thời gian luyện tập để phục hồi. Đúng. Nhưng tại sao Mourinho vẫn để Pogba ra sân? Đơn giản, bây giờ Pogba mới là “ông chủ” của Man United chứ không phải Mourinho.
 
Khi Pogba nói “có những điều tôi không thể nói ra, vì nói ra tôi sẽ bị phạt”, một tay bút của tờ Telegraph đã phân tích là “ai phạt Pogba? BGĐ Man United ư? Không. Với họ, anh là ngôi sao số 1. Mourinho ư? Không, Mourinho không còn đủ tầm chi phối Pogba ở Old Trafford nữa rồi. Chỉ có thể là 1 người: chủ tịch Barca”. Tay bút ấy suy luận kiểu có thể Pogba đã có thoả thuận ngầm với Barca mà nếu lộ ra, anh ta sẽ bị phạt tiền. Suy luận này có vẻ dẩm dớ nhưng nó đúng ở chỗ: Mourinho đang không có đủ tầm quyết định ở Man United. Trước ngôi sao lớn nhất là Pogba, Mourinho vẫn phải chịu nhún. Dễ hiểu, với Man United và giới chủ của nó, Pogba là một tài sản, một biểu tượng. HLV có thể bị thay còn biểu tượng được nhắm để xây dựng huyền thoại thì không bao giờ. Và ở Man United, sau Ferguson, chẳng một HLV nào đủ tầm để được xây dựng thành huyền thoại vượt mọi cầu thủ ngôi sao cả, ít nhất là tính cho đến lúc này.
 
Như vậy, thoả hiệp có phần nhún nhường (nhưng vẫn cố tìm cớ để phản đòn như việc nói kháy về vụ phạt Martial) của Mourinho đã khiến nguyên tắc của ông bị phá vỡ. Xưa nay, dưới triều đại Mourinho, chưa đủ sung sức, chưa sẵn sàng tâm lý, chưa thuyết phục HLV về chất lượng thì ngồi dự bị đi, đừng nói nhiều. Nhưng ông phải bẻ gãy nguyên tắc ấy vì Pogba và gã đầu tàu kia có thể khiến cả một hệ thống bị đổ sụp.
 
VÀ LỰA CHỌN SAI LẦM CỦA LỊCH SỬ
 
Nhắc đến Vitor Frade ở trên, chúng ta cũng không thể nhắc tới một con người khác, nổi danh và nhiều thành tích hơn Frade trăm lần. Người đàn ông ấy sinh năm 1945, tôn thờ và xây dựng thành công thứ bóng đá mẫn cảm nhưng vẫn thực dụng. Tên ông là Jupp Heynckes: cái tên này không cần chú thích nhiều.
 
Nhưng có một điều ít ai nhắc tới khi kể về Heynckes. Đó chính là thứ “chu kỳ hoá chiến thuật”. Heynckes không đặt tên cho triết lý của mình nhưng ông phát triển nó song song và vô cùng tương đồng với Frade. Chỉ có điều, Frade viết thành giáo trình còn ông thực thi nó trên sân cỏ, mà thành tựu nhất chính là thời kỳ 2011-13 ở Bayern Munich, thời kỳ đủ khiến Heynckes trở nên bất tử với CLB vùng Bavaria này.
 
Heynckes khác hẳn (một cách vượt trội) so với nhiều HLV bậc thầy của bóng đá chuyển đổi nhanh trạng thái ở chỗ ông chi tiết hoá rất cụ thể 4 trạng thái trên sân (xem hình minh hoạ). Heynckes gọi nó là “chu trình trận đấu” với 4 pha “Tổ chức phòng ngự” – “Chuyển đổi tấn công” – “Tổ chức tấn công” – “Chuyển đổi phòng ngự”. Các đòi hỏi cho từng pha này là rất cụ thể và nó rất tương đồng với triết lý của Mourinho. Điển hình là ở Chuyển đổi phòng ngự, tại pha này, Heynckes yêu cầu cầu thủ phải “ngăn ngừa đối thủ phát triển bóng để đoạt lại bóng hoặc lập tức phòng ngự có tổ chức, cấu trúc chặt chẽ”. Nó rất giống với cách Mourinho đòi hỏi cầu thủ tạo áp lực ngay khi mất bóng nhưng phần còn lại cũng phải tổ chức co gọn, cân bằng và chặt chẽ. Hành vi tạo áp lực để đoạt bóng là xông xáo nhưng rất mạo hiểm bởi nếu thất bại, đội bóng có thể mất 1 người ở khu vực điểm nóng. Do đó, phải có hoạt động cấu trúc lại hệ thống phòng ngự là để dự phòng. Và chính câu chuyện này khiến chúng ta suy nghĩ đến sai lầm của lịch sử, sai lầm khi duyên số đã sắp đặt con người không đúng vào vị trí của họ ở thời điểm nào đó.
 
Heynckes nghỉ ở Bayern, kỳ nghỉ hưu mà chính ông không biết (Bayern thông báo trước cả Heynckes) và CLB cần người kế tục. Lối đá của Bayern khi đó vẫn là mẫn cảm pha lẫn thực dụng, đúng thứ triết lý của Heynckes. Nhưng sự thèm muốn mẫn cảm đã khiến họ chọn Pep Guardiola. Và việc run rủi đến với Bayern cũng là thất bại của cả hai bên. Bayern chỉ vô địch Bundesliga là nhiệm vụ phải đạt được. Còn Bayern không vô địch Champions League là thất bại toàn tập của cả BGĐ lẫn Pep Guardiola.
 
Lẽ ra, ở thời điểm đó, thời điểm 2013, Bayern nên chọn Mourinho. Là học trò của Frade, Mourinho quá tương đồng với triết lý của Heynckes và đủ sức tiếp tục phát triển mình cũng như xây dựng Bayern hùng mạnh hơn nữa nhờ vào tính chiến đấu và thực dụng, một thứ rất “chu kỳ hoá” và cũng rất Đức. Đặc biệt, ở thời điểm 2013 ấy, Mourinho mới vừa rời khỏi Real với những thất vọng cực cụ thể từ cả hai phía. Thử nghiệm với 1 CLB muốn chơi bóng đẹp mắt của Mourinho đã thất bại và ông cần được quay lại với chính bản thể của mình. Nhưng ông lại đến Chelsea (vì Bayern không chọn ông), một CLB cũng đang thèm bóng đá đẹp. Và rồi giờ đây, ở Man United, nơi cái đẹp đã được ngợi ca hàng thập kỷ rồi, Mourinho đang bế tắc thực sự.
 
Trong khi đó, Pep Guardiola chọn lựa Bayern cũng không phải là lựa chọn đúng dù dưới thời của ông, Bayern chơi rất đã mắt. Nhưng rõ ràng, cái nhuần nhuyễn của bóng đá đẹp kiểu Pep không thể phù hợp trong môi trường của một Bayern đã quen với tính thực dụng và sức mạnh khá lâu rồi. Ở thời điểm ấy, Ferguson lại mới nghỉ hưu và Man United rõ ràng là CLB phù hợp hơn với Guardiola. Nhưng lịch sử đã không lựa chọn như vậy, lịch sử bắt họ đi theo những ngã rẽ của nó, để thực thi những sứ mệnh mà nó giao phó cho họ.
 
Nếu 5 năm trước Mourinho tới Bayern và Pep Guardiola tới Old Trafford, có lẽ đã có 1 trận chung kết phục thù lại năm 1999 bi hùng. Và biết đâu, khi ấy Frade sẽ lên ngôi thực sự, được vinh danh khi triết lý của ông tạo nên diện mạo và cá tính của một CLB hùng mạnh nhất nước Đức cũng như châu Âu, bởi vì nó song hành và tương đồng với một bậc thầy nơi đó: Jupp Heynckes.

RỦI MAY ĐỊA ĐÀNG

39467109_307847229965937_8533007197083271168_o

19/05/2012, sân Allianz Arena, phút 83, Mueller ghi bàn mở tỉ số trận chung kết Champions League. Chelsea lúc ấy đã kết thúc Premier League ở vị trí thứ 6 và bàn thắng của Mueller mang đến một điềm báo không lành rằng đội bóng của Abramovich có thể không được dự Champions League ở mùa kế tiếp. Thorgan quay sang nói đùa “Em gọi cho sir Alex Ferguson nhé?”. Eden không thích câu đùa ấy lắm. Eden đang không có tâm trạng nào để đùa giỡn cả. Anh hồi hộp và lo lắng thực sự.

Hai phút sau câu nói đùa kia của Thorgan, Drogba ghi bàn quân bình tỉ số. Eden nhảy bật ra khỏi ghế ăn mừng. Trong ký ức của anh, đó là bàn đánh đầu mạnh mẽ nhất, uy lực nhất. “Anh là fan của Chelsea mất rồi”, Kyllian, cậu em khác của Eden lại đùa. Lần này, sự đùa giỡn đó được chấp nhận. Nhưng sự hồi hộp thì vẫn còn nguyên.

Loạt luân lưu cuối cùng, người đứng trước chấm 11m là Drogba. Cầu thủ Bờ Biển Ngà bình tĩnh dứt điểm tung lưới Bayern. Các cầu thủ Chelsea lao ra sân ăn mừng. “Vâng, ý tôi đã quyết rồi. Tôi sẽ chơi cho nhà ĐKVĐ Champions League”, Eden nói trong sự vui mừng khôn tả.

Ít ai biết rằng, trước khi Chelsea đi đến trận chung kết, đã có một cuộc điện thoại từ Drogba gọi cho Eden Hazard. “Anh nghe là Chelsea đang đề nghị với chú và chú đang suy nghĩ. Nghe này, ký hợp đồng với Chelsea là quyết định sáng suốt nhất đời anh. Anh đã có 8 năm kỳ diệu ở đây. Tới đây chơi cùng bọn anh đi. Tin anh, chú sẽ vươn tới tầm của Messi và Ronaldo”. Đó là tất cả những gì Drogba đã nói với Eden Hazard trong lần đầu tiên gọi điện thoại. Khi Drogba tới Chelsea, Hazard mới chỉ là cậu nhóc 13 tuổi. Và với Hazard, người vẫn coi Drogba là một siêu tiền đạo thuộc hàng số 1 thế giới, những lời Drogba nói luôn là một bảo chứng vô cùng quan trọng.

Phải thừa nhận rằng, lời mời gọi của Drogba chỉ là một trong những nguyên nhân thúc đẩy Hazard đến với Chelsea nhưng nó chính là nguyên nhân quan trọng nhất. Trước Drogba, Abramovich thậm chí đã khiến Hazard choáng ngợp khi mời anh tới lai rai trên du thuyền của mình. Để tới gặp Abramovich, Hazard đã hủy ngang cuộc hẹn đi xem phim ở LHP Cannes với bạn bè. Nhưng sức tác động từ Abramovich chưa đủ mạnh. Hazard lúc ấy chắc chắn sẽ rời Lille nhưng anh muốn chơi ở Champions League, sân khấu duy nhất có thể biến anh thành cầu thủ cùng chiếu với Messi hay Ronaldo. Mà lúc gặp Abramovich ấy Chelsea đang bị Man United bỏ lại đằng sau tới 20 điểm (tháng 3/2012). Nguy cơ không Champions League là quá rõ. Và Eden lại đang có những lựa chọn khác, ở những nơi có Champions League.

Chính Drogba, với cú điện thoại (mà thực ra là gọi từ máy của Gervinho) cùng pha gỡ hòa trong trận chung kết, mới là kẻ thuyết phục được Eden Hazard. Còn Gervinho, trớ trêu thay, người đồng đội của Hazard ở Lille từ 2009-2011 lúc đó lại đang khoác áo Arsenal, đội bóng cũng muốn Eden Hazard lắm lắm.

2012/13, Eden Hazard đến với Chelsea, dưới tay HLV Di Matteo. Hồi tháng 3/2012, Di Matteo đã nói với trợ lý Eddie Newton “thứ bóng đá chúng ta đang chơi hôm nay chán phèo. CĐV muốn chúng ta chơi cống hiến hơn nữa. Thử xem chúng ta có những cầu thủ sáng tạo nào nào?”. “Juan Mata”, Newton đã trả lời và Di Matteo đã lắc đầu ngán ngẩm mà rằng “Thì đúng rồi. Nhưng chúng ta cần thêm 2-3 cầu thủ như thế nữa. Một mình Mata không đủ giải trí cho fans đâu”.

Lúc đó cũng là khi những báo cáo của Guy Hillion (sếp tuyển trạch viên của Chelsea ở Pháp) bay về London. Hillion đã xem Hazard đá gần 30 trận với niềm say mê tột cùng. “Nó có thể chơi cánh, chơi số 10 đều được. Nó có thể tạo cơ hội ghi bàn, và biết ghi bàn. Nó có cú tiếp bóng xuất sắc, tầm quan sát xuất sắc và kỹ thuật cá nhân xuất sắc. Nó sẽ trở thành số 1 nếu chúng ta đưa nó đi đúng đường. Hãy tin tôi, nó sẽ là ngôi sao lớn”, Hillion thuyết phục như thế và tất nhiên, Di Matteo cùng Abramovich cũng tin như thế. Niềm tin ấy của họ là chuẩn xác.

Hazard ra mắt Chelsea trôi chảy, với những kiến tạo ngay từ trận đầu tiên, đặc biệt là những pha đi bóng buộc hậu vệ đối phương phải phạm lỗi trong vòng cấm. Nhưng cái gọi là khả năng vươn tới tầm của Messi hay Ronaldo thì chưa bao giờ được bộc lộ ra một cách rõ rệt. Và cũng phải mất 3 mùa bóng, Hazard mới có thể vô địch Premier League lần đầu tiên. Tính đến bây giờ, Hazard đã chơi cho Chelsea đến mùa bóng thứ 7 và cũng mới chỉ có 2 chức vô địch Premier League mà thôi. Còn Champions League ư? Điều đó vẫn còn xa vời.

Thật bất công nếu ta đánh giá một con người chỉ dựa vào các số liệu. Hazard chưa bao giờ ghi cho Chelsea được 20 bàn thắng ở một mùa giải và con số đó cho thấy anh còn xa với tầm đẳng cấp của Messi và Ronaldo rất nhiều. Nhưng hãy nhìn vào Zidane ở Real để hiểu Hazard hơn. Hazard thuộc type cầu thủ kiến tạo hơn là săn bàn và ở Chelsea, anh cũng chơi ở một vai trò để kiến tạo chứ không phải được giao phó sẽ là một mũi uy hiếp từ phía sau như Messi hay Ronaldo ở Barca và Real. Tầm ảnh hưởng của Hazard ở Chelsea là rất lớn, không khác gì tầm ảnh hưởng của hai cầu thủ kia ở CLB của họ. Và đó cũng là lý do Real chưa bao giờ rời mắt khỏi Hazard, nhất là khi Ronaldo đã ra đi.

Vậy thì với một tài năng không thể phủ nhận như thế, điều còn thiếu của Eden Hazard là gì? Dường như là một chút động lực? Chúng ta đã chứng kiến anh vô địch Premier League 2014/15 thế nào, rồi sau đó chơi ra sao ở mùa kế tiếp. Phải chăng, Hazard là con người sinh ra để săn tìm động lực và khi có nó rồi, anh lại để mất nó một cách dễ dàng?

Hay là Hazard chưa được rơi vào một đội hình “cống hiến” đúng nghĩa, như Di Matteo đã nói? Ở Chelsea, mùa đầu tiên Hazard vô địch Premier League, bên cạnh anh là Oscar, Fabregas, những cầu thủ có thể coi là có tố chất chơi bóng kỹ thuật kiểu nghệ sỹ. Rồi mùa vô địch kế tiếp thì sao? Đó là lúc sức mạnh và sự xông xáo của Kante lên tiếng chứ không phải nghệ sỹ tính mang lại sự choáng ngợp cho khán giả. Và suốt thời kỳ Chelsea của mình cho tới nay, ở Champions League, PSG vẫn luôn là ám ảnh đối với Hazard. Ở PSG, những ngôi sao trình diễn luôn đông đảo hơn Chelsea.

Đó có thể là lý giải nhưng thực sự thuyết phục thì chưa hẳn. Cống hiến hay không, đẹp mắt hay không đúng là phụ thuộc vào nhân tố con người nhưng triết lý của đội bóng luôn là nền tảng lớn nhất. Abramovich thích bóng đá giải trí nhưng thực tế những HLV ông đưa về chưa một ai thực sự mặn mòi với thứ bóng đá giải trí cả. Kéo theo đó, những con người họ mua sau này cũng luôn bị “soi gương” với quá khứ xưa cũ, quá khứ mang hình bóng sức mạnh cơ bắp, tốc độ, tính chiến đấu và tư duy thực dụng kiểu Drogba, Makelele và thậm chí là Lampard. Và đặc biệt với Hazard, một cầu thủ trưởng thành từ cái nôi chơi bóng kỹ thuật, việc làm việc cùng những HLV mang nặng tính thực dụng như Mourinho đã không giúp anh “đi đúng con đường” như Guy Hillion đã nói ngày nào.

Thật tiếc là ở Chelsea Hazard không có cơ hội được chơi cùng De Bruyne, Schurrle, Mata, Fabregas một cách lâu dài đủ để tạo thành một bộ khung sáng tạo. Nhiều lúc, có cảm giác anh lạc lõng giữa chính CLB mà anh rất yêu mến ấy, lạc lõng giữa chính chọn lựa quyết định sự nghiệp của mình năm 2012.

Hồi ấy, Arsenal và Real cũng muốn có Hazard, nhưng họ cho rằng cái giá 30 triệu bảng là quá đắt. Quả thực, với Real, để mua Hazard năm 2012 là không cần thiết nên cái giá 30 triệu bảng là đắt rõ ràng. Nhưng Arsenal thì sao nhỉ? Có lẽ, trong di sản Wenger để lại cho Emery, vụ Hazard là một sai lầm vĩ đại. Tất nhiên, ở thời điểm 2012 ấy, việc bỏ ra 30 triệu bảng cho một cầu thủ 21 tuổi là chưa từng có tiền lệ ở Arsenal nhưng không lẽ những theo dõi kiên trì của Wenger, những đánh giá tích cực của ông và đội ngũ tuyển trạch viên không đủ khiến Arsenal có thể dũng cảm quyết định? Thực sự, lối chơi của Hazard, cùng lịch sử trưởng thành trong nghề của anh cho thấy anh sẽ phù hợp hơn với một đội bóng như Arsenal. Ở đó, nếu anh được chơi cùng Oezil, Aubemayang, Lacazette hôm nay, chắc chắn anh sẽ giúp biến Pháo thủ trở lại là một thế lực cạnh tranh đáng gờm.

Cuộc sống là những chuỗi sự kiện mà nhiều khi, chỉ một quyết định thôi sẽ thay đổi các biến cố về sau rất nhiều. Với Hazard, chuỗi sự kiện kia không chỉ là kết quả từ một quyết định của riêng anh, mà còn là quyết định của những kẻ theo đuổi anh như Arsenal, Real. Và tên anh, Eden, có nghĩa là địa đàng, mỉa mai thay lại đi kèm cái họ Hazard, có nghĩa là rủi may, mạo hiểm. Chọn lựa Hazard có khi nào là chọn lựa mang tính rủi may, mạo hiểm nên các CLB kia không cố thêm một bước chân? Ngược lại, chọn lựa của chính anh phải chăng cũng đầy tính rủi may, như cái cách mà cú luân lưu của Drogba ở Allianz Arena đã góp phần để quyết định thay.

Điều gì sẽ xảy ra nếu hồi đó anh nghe theo lời đùa của Thorgan là gọi điện cho sir Alex Ferguson? Hazard ở Man United, điều đó chắc chắn sẽ là một thú vị cực lớn, đem lại những biến số cực lớn cho cục diện Premier League sau này.

ĐỂ THẮNG PEP GUARDIOLA

Để thắng Pep Guardiola đã là một bài toán lại được đặt ra một lần nữa, khi Man CIty chơi thăng hoa ở mùa giải 2017/18 và khởi đầu mùa giải 2018/19 bằng một chiến thắng thuyết phục trước Arsenal của Unai Emery. Bài toán ấy đã từng được đặt ra cách đây rất lâu, khi Pep còn ở Barca, và rơi vào quên lãng khi Pep không giành được thành tích châu lục với Bayern Munich. Nhưng hôm nay, với diện mạo mới của Man City, bài toán đó cần được tìm đáp án trở lại.
 
Thực tế, nhiều người vẫn nhìn vào giai đoạn hoàng kim của Barcelona với Pep để cho rằng đó là thành công đỉnh điểm nhất trong sự nghiệp của ông (tính tới lúc này). Điều đó tuyệt đối đúng, nếu chúng ta chỉ nhìn vào bảng thành tích, danh hiệu mà ông đã đạt được. Nhưng nếu nhìn vào chuyên môn, Man City mới là thành tựu lớn nhất trong sự nghiệp huấn luyện của Guardiola cho dù rằng có thể ông sẽ không đăng quang tại Champions League cùng với đội bóng ấy. Và đây cũng chính là nhận định chung của khá nhiều chuyên gia tiếng tăm nước ngoài hiện nay.
 
Man City chơi khác với Barca và Bayern thế nào, chúng ta cần phải nhìn vào câu chuyện đó trước nhất, rồi hẵng vội phê phán đánh giá ở trên về công việc của Pep ở nước Anh. Rõ ràng, với Man City, chúng ta nhận thấy Pep đã triển khai mội lối chơi tấn công trực diện theo chiều dọc (Vertical) nhiều hơn hẳn so với khi ông cầm quân ở Barca hay Bayern. Man City có xu hướng đột kích vào khu vực phía sau lưng hàng thủ của đối phương, điều mà Barca hay Bayern không thường xuyên thực hiện. Và xu hướng ấy chứng minh một tiến hoá trong chiến thuật của chính Pep, một tiến hoá để hoàn thiện hơn, và cũng để phủ nhận chính mình trong quá khứ.
 
Thực sự, không hiểu Pep có mặc cảm với đánh giá ở Barcelona ông chỉ là kẻ đứng trên vai người khổng lồ hay không nhưng khó có thể phủ nhận rằng triết lý bóng đá của ông ở Barcelona là một kế thừa tuyệt đối từ Johan Cruyff. Cruyff, với quan điểm bắt đối thủ phải di chuyển, đã phát triển từ triết lý của Rinus Michels để tạo nên bản sắc tiki-taka cho đội bóng xứ Catalan. Triết lý ấy được phát huy rất tốt dưới tay của Rijkaard, với những điểm xuyết của Rijkaard về thứ bóng đá linh hoạt vị trí (positional play) mới mẻ. Trọng tâm của bóng đá linh hoạt vị trí này chính là việc luôn thuận theo tình thế trên sân để tạo ra sự áp đảo quân số ở những khu vực đặc biệt trên sân. Kết hợp với lối chuyền bóng ngắn an toàn (mà Cruyff đã nói rằng “lý do khi mất bóng chúng tôi luôn lui về rất nhanh là bởi không bao giờ chúng tôi chuyền dài quá 10m”), tiki-taka đã được tạo thành một kiệt tác khiến thế giới phải run sợ kể từ 2005/6 (mùa bóng Rijkaard đăng quang) cho tới 2012 (năm Pep chia tay Barca). Sau đó, nó vẫn còn thành công nhưng không còn là thứ vũ khí hủy diệt nữa, khi mà các đối thủ bắt đầu nghiên cứu nó rất kỹ, và tìm cách hoá giải.
 
Hôm nay, có vẻ như Pep đã tiến hoá nó hơn, với Man City, khi ông phải va chạm với Premier League, một môi trường thiên về tốc độ và sức mạnh. Mất một mùa đầu để “truyền giáo” cũng như để tìm hiểu môi trường mới, Pep đã bắt đầu tạo nên một Man City pha trộn giữa những tinh chất của các lối chơi: chuyền bóng ngắn, chuyển đổi trạng thái nhanh, chơi linh hoạt vị trí tốt và cực quyết liệt trong pressing. Đặc trưng ấy, cùng những con người cũng khác với con người Pep có ở Barca, đã cho thấy Pep đã tái tạo lại triết lý của mình ở một diện mạo mới, đáng kinh ngạc và đáng kính phục.
 
Ở Man City, Pep chú trọng tới việc sử dụng những cầu thủ có tốc độ cao ở tuyến dưới, đặc biệt là hai cầu thủ đá biên (attacking wingback), những người sẽ phối hợp với trung phong tốc độ phía trên. Trong khi đó, hàng tiền vệ ông chú trọng xây dựng kết cấu bằng 1 tiền vệ phòng ngự lì lợm, sẵn sàng chơi rắn, có tốc độ cao, có tính cơ động cao (Fernandinho) kết hợp với 2 tiền vệ trung tâm có kỹ thuật cá nhân tốt (Guendogan, Bernando Silva, David Silva, De Bruyne). Những cá thể ấy, khi đã nhuần nhuyễn lối chơi linh hoạt vị trí tinh tế của Pep, đã bắt đầu định hình Man City như một con quái vật mới của Premier League và có lẽ là của cả Champions League.
 
Vậy thì để thắng Pep Guardiola, đối thủ của ông cần gì?
 
Đó là một câu hỏi khó trả lời vì nếu trả lời được, chúng ta có thể đi làm HLV thay vì ngồi ở đây và gõ bàn phím. Nhưng thực tế, không có gì là hoàn hảo cả, và triết lý của Pep cũng sẽ vẫn có những điểm sơ hở để có thể bị chinh phục. Nhưng quan trọng nhất, muốn chiến thắng Pep chúng ta cần phải hiểu đội bóng hiện nay của Pep chơi bóng ra sao. Từ đó, chúng ta phải trả lời câu hỏi số 1 là “làm sao để đừng thua Pep?” rồi mới dẫn tới câu hỏi thứ 2 “sau khi không thể thua Pep thì mới nghĩ tới thắng Pep bằng cách nào?”
39135006_304753923608601_8020233061658525696_n
 
Pep có thói quen chia sân bóng thành một lược đồ chi tiết thành 20 khu vực khác nhau mà chúng ta tạm gọi vui là các “vùng chiến thuật” (xem hình minh hoạ). Trong 20 vùng chiến thuật đó, có 12 vùng được đặt tên “ít cơ hội” và nằm ở sát hai biên, với 6 vùng Man City ít có cơ hội tạo tình huống uy hiếp cũng như 6 vùng đối thủ khó có cơ hội tương tự. Sở dĩ vùng này bị coi là ít cơ hội vì khả năng chuyền bóng ở khu vực này không đa dạng, chủ yếu là các pha tạt bổng. Vùng này, Pep chủ trương sử dụng nó để kéo giãn đội hình phòng ngự đối phương và tìm chỗ trống cho đồng đội ở trong di chuyển vào các khe giữa hàng thủ đối phương. Vùng kế tiếp là 4 khu vực “vùng đệm” (half space) chia đều cho hai đội bóng. Đây là vùng nguy hiểm vì nó tập trung bóng khá nhiều và nó là không gian có thể thực hiện những cú dứt điểm trúng đích. Ở Barca, nó là vùng ưa thích của Messi; ở Bayern, nó là cái mỏ của Robben còn ở Man City, Kevin De Bruyne, David Silva rất mạnh ở vùng này. Và cuối cùng là 2 vùng chiến thuật quan trọng nhất, có không gian rộng nhất, được coi là vùng mở ra cơ hội ghi bàn: khu vực trung lộ ngay sát vòng 16m50. Đây là vùng có thể dứt điểm, có thể chuyền kiến tạo, có thể phối hợp bật nhả để qua người và tiếp cận khung thành. Vùng này, với Pep luôn là vùng tử huyệt cần khai thác triệt để.
 
Hãy nhìn pha ghi bàn mở tỷ số của Sterling trước Arsenal để thấy rõ nguy cơ tiềm ẩn ở vùng này. Sterling nhận bóng từ Mendy, dắt bóng chạy ngang sân ở vùng này thay vì thói quen xưa cũ là tìm cách đột phá vào vòng cấm. Khi đã mở không gian dứt điểm bằng cách dừng bóng ở vị trí có góc sút rộng, trực diện khung thành, Sterling ra chân. Lúc ấy, Cech có sai lầm hay không là chuyện của Arsenal còn bàn thắng cho Man City rõ ràng là có một ý đồ đã được tập luyện rất kỹ từ trước.
 
Với việc chia vùng rất cụ thể như thế, chúng ta thấy rất rõ các cầu thủ chạy cánh của Man City (Walker và Mendy) thường xuyên có xu hướng thoát khỏi vùng “ít cơ hội” và xâm nhập vào vùng phía trên của khu vực “vùng đệm” (tức hai nách vòng cấm địa). Bàn nâng tỷ số lên 2-0 của Bernando Silva trong trận gặp Arsenal cũng đến từ nỗ lực xâm nhập khu vực này rồi mới chuyền bóng của Mendy. Pep muốn những đường chuyền được thực hiện ở những vị trí mở rộng hơn là những cú tạt từ sát biên. Và Mendy cùng Walker đã tuân thủ rất chặt quy định này. Họ luôn chơi với tâm thế phải thoát vùng ít cơ hội và xâm nhập ngay khi cấu trúc phòng ngự của đối thủ bị xô lệch và mất cân bằng.
 
Để nói về lối chơi kể trên của Man City thì quá dễ nhưng để thực hiện nó rất khó. Pep có quy định cực rõ, ở các không gian chơi bóng, không bao giờ được phép qúa 3 cầu thủ đứng cùng trên một hàng ngang và không có quá 2 người đứng cùng trong một vùng chiều dọc. Đó chính là yếu quyết chơi vị trí chiến thuật của Pep. Đơn giản, ông muốn phải luôn có ít nhất là 2-3 phương án chuyền bóng ở mỗi thời điểm khống chế bóng.
 
39203149_304753940275266_5414373895190872064_o
Phức tạp hơn nữa, Pep không cho phép nóng vội khi tổ chức tấn công. Ông cần tạo ra cấu trúc và hình dạng (structure and shape) đội hình trước khi tổ chức một đợt tấn công. Và quan điểm của ông cho rằng, cần ít nhất 15 đường chuyền để dàn xếp trận thế thì mới có thể ổn định được cấu trúc và hình dạng. Thêm vào đó, khi chuyển hướng tiếp cận, tức là chuyển từ cánh trái sang cánh phải và ngược lại bằng đường mở bóng ngang sân, Pep cũng đòi hỏi ít nhất phải có 5 đường chuyền qua lại để định dạng vị trí cũng như để kéo giãn cấu trúc của đối thủ theo thói quen thì mới có thể tung đường mở bóng chuyển hướng đột ngột. Để làm được điều này, phải tập thật nhuần nhuyễn và có thể nói, đến tận cuối mùa giải vừa rồi sự nhuần nhuyễn ấy mới thực sự xuất hiện như thói quen ở Man City.
 
Phân tích được lối chơi của Pep rồi, chúng ta bắt đầu trả lời câu hỏi thứ nhất ở trên. Theo quan điểm riêng của tôi, để không thua Pep, phải bình tĩnh hơn Pep. Quy định số lượng đường chuyền qua lại tối thiểu để định hình đội hình và kéo giãn, phá vỡ cấu trúc của đối thủ cho thấy Pep bình tĩnh thế nào. Pep lại theo đuổi triết lý để cấu trúc của đối thủ bị phá vỡ, phải bắt họ chạy. Chính vì thế, trước Pep, các đội bóng cũng cần chơi vị trí chiến thuật nhuần nhuyễn. Tức là thay vì chạy theo các đường chuyền, cần bình tĩnh quan sát chọn vị trí để khoá các hướng có thể triển khai của Man City. Những vị trí cần khoá chặt chính là không gian vùng đệm (half space) và vùng trung lộ trước mặt vòng 16m50. Chính việc nhiều đối thủ vì quen chơi pressing theo kiểu tập trung điểm nóng (lệch đội hình thiên về nửa sân phía biên đang tập trung bóng) nên dẫn tới việc để hở không gian cho các wingback cũng như tiền đạo cánh của Man City ở phía đối diện có không gian để đột phá, xâm nhập vào vùng đệm (half space) hoặc cắt thẳng vào trung lộ như trường hợp của Sterling trong trận gặp Arsenal. Trước Man City, hãy chờ đợi họ chuyền bóng qua lại và chủ trương cô lập các cầu thủ chạy cánh của họ bằng cách để họ càng phải chơi bám biên càng tốt. Chỉ khi khoá được các mũi nhọn tốc độ ấy, khả năng bị Man City ám sát mới giảm thiểu.
 
Ngoài ra, việc sử dụng những tiền vệ trung tâm cũng rất quan trọng. Trước Man City, nếu tiền vệ trung tâm càng tốc độ, thể lực, tập trung và cơ động, tuyến giữa của Man City sẽ khó phát huy hơn. Thêm vào đó, chủ trương chơi cô đặc, chơi đội hình thấp và phản công nhanh bằng tốc độ, khoét sâu vào vị trí mà hai cầu thủ chạy cánh của họ để trống sau lưng cũng sẽ là chìa khóa để mở ra chiến thắng bất ngờ. Monaco đã từng làm được điều đó 2 mùa bóng trước, bằng chính tốc độ của Mendy và Mbappe. Cũng chính vì lý do đó, Pep đã đưa Mendy về sân Etihad bởi ông nhìn thấy ở anh thứ mà ông rất cần.
 
Nhưng không phải đội bóng nào cũng có “tên lửa” để phản công trước Man City. Vậy thì khi đã không thua họ, điều đó đã là hạnh phúc rồi. Còn muốn thắng họ ư? Có lẽ phải trông chờ vào các tình huống cố định mà thôi. Nhưng nên nhớ, hàng thủ của Man City chống cố định rất tốt.
 
Nói chung, để thắng Pep Guardiola luôn là bài toán khó mà tài năng, điều kiện nhân sự, lựa chọn phù hợp có khi vẫn chưa đủ. Nhưng ít ra, hiểu được triết lý của ông cũng đã giúp phần nào đối thủ của ông hạn chế khả năng thất bại hơn. Và có gì hạnh phúc hơn nếu bạn làm nghề, và hiểu được một HLV bậc thầy bởi từ cái hiểu đó, bạn sẽ học được nhiều điều đáng giá.

ARSENAL vs MAN CITY: CHUYỆN CỦA SPEEDSTER VÀ CỦA NHỮNG KẺ THAY ĐỔI CUỘC CHƠI

 
Khi Premier League được thành lập, các CLB Anh mới trở lại với bóng đá châu Âu được 2 năm sau lệnh cấm. Có lẽ, khoảng thời gian 5 năm không được dự cúp châu Âu mang lại sự ngỡ ngàng nhiều hơn là sự tỉnh táo để người Anh nhận ra rằng bóng đá châu Âu đã đi xa tới đâu. Lúc ấy, Premier League vẫn quen quan niệm về một trung phong (số 9) cổ điển là to, cao, khoẻ, chơi “target man” quanh quẩn trong vòng cấm chờ đợi những cú tạt bổng. Điển hình mẫu trung phong của họ là Dion Dublin, Duncan Ferguson, Chris Sutton, những người thừa cơ bắp tì đè, thừa sức bật để đánh bại các trung vệ to cao nhưng lại thiếu một thứ châu Âu đang có: tốc độ.
 
Thậm chí, khái niệm tiền đạo lùi khai thác khu vực ranh giới các tuyến, hay ở các bài trước gọi là “vùng kết nối” (between the lines) cũng quá xa lạ với Premier League. Chính vì thế, xu hướng chơi phòng ngự của họ là đẩy cao hàng hậu vệ, với ý đồ mở rộng vùng việt vị để đẩy các trung phong kia càng xa vòng cấm địa càng tốt.
 
Dennis Bergkamp và một loạt các tiền đạo nước ngoài như Zola, Anelka, Henry… đã tới và khiến các đội bóng Premier League vất vả vì họ. Lối chơi lùi về vùng ranh giới các tuyến, để buộc trung vệ phải dâng lên áp sát và lộ khoảng trống, nhờ đó đồng đội băng lên chiếm lấy khoảng trống ấy khiến cấu trúc phòng thủ bị vỡ đã là một bài đánh quen thuộc mà Arsenal (và sau này là nhiều CLB cấp tiến khác đã sử dụng) đã khiến các CLB Anh phải thay đổi. Họ bắt đầu hiểu ra, nếu dâng cao hàng thủ, điều đó đồng nghĩa với tự sát, đặc biệt là khi đối phương có một tiền đạo thuộc diện “công thức 1” hay nôm na gọi là Speedster.
 
Thực tế, không chỉ người Anh có thói quen dâng cao hàng thủ như vậy mà nhiều đội bóng nước ngoài khác cũng vẫn chơi như thế. Nhưng việc sử dụng một tiền đạo kiểu Speedster thì người Anh đi sau châu Âu rất nhiều. Một trong speedster đầu tiên của họ, và cho đến nay vẫn là speedster số 1 của họ chính là Michael Owen.
 
Nhận xét về Michael Owen, HLV Glenn Hoddle đã từng nói “Cậu ấy không phải là một trung phong điển hình” để rồi sau đó ông phải gọi điện cho Owen để giải thích rằng không phải ông coi thường anh, mà thậm chí là ông ngưỡng mộ anh. Chẳng qua, cách nói của ông muốn ám chỉ Owen đã thay đổi hẳn tư duy chơi trung phong của người Anh.
 
Nhắc chuyện cũ để nói về trận đấu tối nay, trận mở màn đáng theo dõi nhất vòng khai mạc Premier League 2018/19: Arsenal vs Man City. Đây sẽ là trận cầu mà kiểm nghiệm về những speedsters rõ ràng nhất khi ở cả hai phía đều có những cầu thủ tốc độ cao như Aubemeyang, Lacazette, Leroy Sane, Mahrez và De Bruyne.
38935446_302549257162401_3366611570963513344_o
 
Cách đây vài tháng, trên sân Emirates, Arsenal của Wenger đã thất thủ 0-3 trước Man City của Pep Guardiola, một thất bại cho thấy Wenger dường như bất lực trong việc chinh phục người đồng nghiệp trẻ, tài ba hơn mình. Ở trận cầu ấy, nếu nhìn lại sơ đồ nhiệt (heatmap) của hàng thủ 2 bên, chúng ta nhận thấy rất rõ hàng thủ Arsenal luôn dâng cao hơn so với hàng thủ đối phương. Và nếu so sánh cặp trung vệ, hoặc thậm chí từng trung vệ, chúng ta cũng thấy thiên hướng dâng lên cách xa khung thành tới khoảng cách 30m của cặp Koscielny – Mustafi trong khi ở phía đối diện, Otamendi hay Kompany không rời xa khu vực phía trước vòng cấm địa quá nhiều. Còn xét tổng thể cả đội hình, Man City có xu hướng dàn xếp tổ chức tấn công ở khoảng cách 25m so với mặt thành của Petr Cech, chỉ trừ trường hợp đặc biệt ở biên trái của Sane là việc tổ chức tấn công có thể dâng lên đến khoảng cách ngang với vạch 16m50. Trong khi đó, Arsenal dàn xếp tổ chức tấn công ở khu vực rất cao, gần sát với vòng tròn 9m15, thậm chí xuống sát biên ở hai bên cánh. Và đó chính là chìa khoá cho chiến thắng của Man City cũng như tử huyệt dẫn tới thất bại của Arsenal.
 
Việc dâng cao quá mức đối với Arsenal dưới thời Wenger đã là thói quen, một thói quen xấu. Khi họ dâng quá cao, đối thủ buộc phải co cụm lại và đối thủ nào càng có độ cân bằng khi compact (co gọn đội hình), họ càng có khả năng khoá chặt mọi lối tiếp cận khung thành của Arsenal. Và với không gian quá nhỏ hẹp như vậy, các speedster của Arsenal trở nên vô dụng hoàn toàn.
 
Còn Man City, việc chia sân chơi thành 2 khu vực: 65-75m cách mặt thành đội nhà và phần còn lại của mặt sân đã là nguyên tắc vàng mà Pep không cho phép ai vi phạm. Ở không gian 65-75m kia, các cầu thủ của Pep phải vận hành kiên nhẫn theo các hoạch định trước của ông, từ chuyền bóng cho tới di chuyển. Chỉ khi ở vào khoảng không gian còn lại, tức 25-35m cuối sân, họ mới có quyền phát huy sáng tạo cá nhân của mình. Mà khi cầu thủ Man City xâm nhập được khoảng 25-35m kia, đó chính là khi họ đã có cơ hội uy hiếp thực sự.
 
39032377_302549247162402_6295556199119060992_o
Thực chất, cự ly để xây dựng, tổ chức, dàn xếp tấn công của Man City là một cự ly lý tưởng. Ở cự ly ấy, họ hoàn toàn có không gian để những speedsters của mình bứt tốc tạo đột biến. Lối chơi của Pep vốn bị coi là ru ngủ thực ra rất nguy hiểm ở chỗ đó. Họ chuyền bóng nhiều, chuyển hướng bóng nhiều để kéo giãn, xô lệch, phá vỡ kết cấu phòng ngự của đối phương và rồi khi có cơ hội, họ chớp nhoáng có những pha tỉa bóng, chọc khe để những tay đua tốc độ nước rút xuống đón bóng dứt điểm. Bàn thắng thứ 3 của Man City ở trận cầu hồi tháng 3 đó đã diễn ra như thế. Khi Man City dàn xếp ở cự ly thấp, hàng thủ Arsenal nôn nóng dâng cao, một cú tỉa bóng rất sắc cho Kyle Walker đua tốc độ thoát xuống từ biên phải, thâm nhập vòng cấm và căng ngang đã tạo cơ hội cho Sane ghi bàn. Thử hỏi, nếu không có không gian đủ để làm một cú nước rút đón bóng, liệu Kyle Walker có khả năng thoát xuống hay không và Sane cũng có thể băng nhanh xuống đón bóng hay không?
 
Song, điều gì sẽ xảy ra nếu cả hai đội bóng đều cùng chơi một cách cẩn trọng với đội hình thấp? Sẽ khó có thể có cơ hội cho cả hai bên. Mà mục tiêu của bóng đá vẫn phải là kiếm tìm bàn thắng. Một đội bóng không thể lúc nào cũng chơi thấp ở phần sân nhà. Họ phải chuyển đổi trạng thái, mở rộng cự ly đội hình khi đoạt được bóng và tổ chức tấn công chớp nhoáng. Chính vì thế, sẽ khó có thể tồn tại một trận cầu tiêu cực như hình dung ở trên. Thay vào đó, sẽ là một cuộc chơi khi bên này cầm bóng, bên kia cô đặc đội hình và ngược lại. Lúc đó, bản lĩnh của những cầu thủ đủ tầm thay đổi cục diện sẽ lên tiếng.
 
Ở trận thua hồi tháng 3 của Arsenal, thực tế những phương án dứt điểm tuyến 2 của Arsenal rất hay, khi họ chiếm lĩnh được các không gian ráp gianh giữa các tuyến của Man City một cách chớp nhoáng trước khi khoảng không gian ấy bị khoá chặt. Nhưng thủ thành của Man City đã quá hay ở trận cầu ấy. Và ở chiều ngược lại, Man City lại có những người có khả năng tạo ra những pha dứt điểm khó đến bất ngờ, mà điển hình là cú cứa lòng của Bernando Silva mở tỷ số 1-0.
 
Tối nay, Unai Emery sẽ gặp thử thách lớn đầu tiên ở Premier League và sơ đồ chiến thuật của ông cũng khác với của Wenger rất nhiều. Việc dùng sơ đồ 4-3-3 với Oezil – Aubemeyang – Lacazette cho thấy chủ trương sử dụng Oezil như lá bài chiếm lĩnh các không gian giáp ranh và tận dụng khả năng bứt tốc của cặp Aubemeyang – Lacazette. Song, cơ bản là Emery có kéo giãn được hệ thống của Pep Guardiola mỗi khi Arsenal có bóng hay không mới là quan trọng. Trong khi đó, ở chiều ngược lại, Sane và Mahrez đang hứa hẹn cho thấy 1 bộ mặt Man City mới mẻ hơn. Tuy nhiên, hàng thủ của Arsenal hôm nay đã khác với hồi tháng 3, với nhân tố mới mang tên Sokratis. Nếu Arsenal khuất phục được Man City tối nay, đó có thể sẽ là chương mở đầu rất đẹp khiến nhiều người phải đánh giá lại về khả năng đi xa của họ, bằng một cái nhìn tôn trọng hơn rất nhiều.

ROMAN! S“O”RRI! MAURIZIO CHẮC CHẮN SẼ KHIẾN CHELSEA TỐT HƠN

Trận thua Man City ở Community Shield 2018 chắc chắn sẽ khiến nhiều người nghi ngờ vào khả năng của Maurizio Sarri. Và nếu nghi ngờ ấy được dung dưỡng bằng những kết quả không khả quan ở mùa giải mới này, rất có thể nó sẽ lây lan sang bộ não của Roman Abramovich, một người không được đánh giá cao ở độ kiên trì. Nhưng Roman, phải nói S”o”rri với ông, Maurizio chắc chắn sẽ khiến Chelsea tốt hơn, dù có thể ông không mang lại cho Chelsea chức vô địch Premier League hay Champions League.
Trong trận Community Shield vừa rồi, có một hình ảnh chắc ít người để ý. Đó là khi Chelsea đang bị dẫn 0-1, Sarri móc túi áo, lấy ra một gói nhỏ. Rồi ông véo một mẩu gì đó từ gói ấy đưa lên miệng. Dường như đó là thuốc lá nhai, một thứ chắc Sarri cũng chỉ dùng đối đế mỗi khi thèm khói mà không thể châm lửa. Roman hãy nhớ chi tiết ấy, và làm cho ông một booth hút thuốc lá riêng ở Stamford Bridge, như cách mà Leipzig đã làm để tỏ lòng hiếu khách khi Sarri đưa Napoli đến Red Bull Arena ở lượt về Europa League. Có thuốc lá, Sarri vẻ như minh mẫn hơn. Trận đó Napoli thắng 2-0 và nếu chỉ may mắn hơn chút thôi, họ có thể đã loại Leipzig ở vòng knock-out của giải đấu rồi.
Điếu thuốc lá, ở thời này là một thứ có thể coi là lạc hậu. Điếu thuốc của Sarri gợi nhớ hình ảnh Marcello Lippi với điếu cigar hai thập niên trước. Đôi giày thi đấu màu đen, ở thời này cũng là một thứ cổ điển. Sarri không thích những đôi giày màu mè, và ông từng bôi đen những đôi giày màu mè mà cầu thủ của ông ở CLB Cavriglia định mang hồi thập niên 1990. Mê tín, ở thời này cũng bị xem là cổ hủ. Sarri từng đụng xe vào chiếc BMW của một cầu thủ trong đội của mình (hồi ông huấn luyện Arezzo) khi đưa xe vào bãi đỗ. Ngẫu nhiên, trận ấy đội của ông thắng. Thế là từ đó, cứ mỗi sáng của ngày thi đấu, ông lại cố tình đụng xe vào xe cầu thủ của mình, như một nghi thức cầu nguyện. Trước nghi thức ấy, ông kính cẩn giữ 1 nghi thức khác: cạo râu 48 giờ trước giờ thi đấu.
Sarri là như thế. Nhưng đó không phải là Sarri lạc hậu, mà là một Sarri thích những giá trị cổ điển. Và một trong những giá trị cổ điển nhất mà ông gìn giữ chính là lối sinh hoạt khép kín như 1 gia đình. Ông vẫn thường quay lại Caffe Greco ở Naples, nơi mà ông đã sống ở tầng trên của cái quán đó, để gặp những người cũ, những người còn nhắc tới ông thời niên thiếu, như cách bà chủ tiệm tóc cách ba bước chân vẫn nói “lão ấy đá vỡ kính tiệm này mấy lần rồi”. Và Sarri sẽ mang đến cái lề lối gia đình ấy cho Chelsea, thứ mà đội bóng đó còn thiếu hay nói khác hơn là cả Premier League vẫn còn chưa có.
Người Napoli vẫn thường nói về Sarri bằng giọng điệu “Sarri là một trong số chúng ta”, một câu nói cho thấy ông gần gũi với họ ra sao. Xây dựng một đội bóng như 1 gia đình, đó là điều chỉ người Ý và TBN có thói quen thực hiện nhưng không phải tất cả các đội bóng Ý và TBN đều thế. Song, trong số những đội bóng xây dựng quây quần như một gia đình gắn bó và có lề thói, đa số đều là những CLB lớn, và thành công.
Sarri sẽ trình diện Premier League một Chelsea chơi bóng ra sao, có đủ sức mạnh để cạnh tranh với thế lực Man City mà Pep đang gầy dựng rất thành công hay không? Đó là một câu hỏi mà đáp án còn bỏ ngỏ. Có thể sẽ là thất bại, thậm chí là sấp mặt. Có thể là chia tay sớm, như cái cách Roman Abramovich vẫn làm. Nhưng cũng có khi là 10 năm hoàng kim như ước nguyện của Sarri khi ông nói ra “muốn làm việc ở đây tới 10 năm”. Ở giữa cái mông lung của bỏ ngỏ đáp án kia, chắc chắn có 1 điều mà Chelsea sẽ được: đó là sự gần gũi nhưng nghiêm khắc; tính nguyên tắc nhưng biết mềm mỏng; giàu suy tư tưởng tượng nhưng lại vô cùng thực dụng của Sarri sẽ giúp họ có 1 đội bóng gia đình.
Sarri từng nói “bóng đá là nghề, ngân hàng là đam mê”. Nhưng ông bỏ chân làm việc ở ngân hàng với mức lương gấp 5 lần để nhận việc HLV ở Stia, một đội bóng nhỏ. Và bây giờ, ông có mức lương ở tầm vóc CEO một ngân hàng cực lớn. Nên nhớ, khi một bộ óc tài chính đối diện với các cầu thủ bóng đá, chắc chắn sẽ không có sự mơ hồ. Tất cả đều là chính xác, chính xác để vươn tới mức độ tuyệt đối không thể có sai lầm.
Chelsea mấy năm qua từng thăng hoa rồi lập tức gục ngã ở mùa kế tiếp. Tất cả là do những cầu thủ của họ không thể học cách tự tôn lẫn nhún mình như thành viên của một gia đình. Hãy nhìn Pogba của Man United là hiểu. Ở CLB, anh ta loẻ loẹt màu mè như một thằng hề nhưng về ĐTQG, anh ta như một thành viên có trách nhiệm và rất giản dị. Đó chính là thứ kỷ luật gia đình mà Deschamps học được từ Ý, và xây dựng thành công. Zidane cũng làm được điều đó ở Real và hôm nay, Sarri bắt đầu nó ở Chelsea, trước những Hazard, Morata, Kante… Nếu ông đưa họ vào được cái khuôn khổ gia đình đó, Chelsea sẽ rất khó bị đánh bại.
Cha của Sarri dặn ông một câu sau khi ông nhận việc ở Chelsea, rằng “Hãy nhớ, ta luôn là con người y chang như chính ta đã từng của hôm qua”. Vâng, ở Chelsea, sẽ vẫn là Sarri của Napoli, một Sarri không bao giờ cho phép cầu thủ trở thành ông chủ.
Chelsea cần điều đó, chứ không phải cần một số 9, số áo còn trống hiện nay, mà nhiều người hâm mộ sốt ruột cho rằng “chỉ còn mấy chục giờ đồng hồ nữa thôi, hãy mua 1 số 9 đi thôi”. Nên nhớ, Man City cũng không có số 9 ở mùa giải vô địch vừa rồi và Napoli của Sarri cũng thế.

EPL: KẺ THAY ĐỔI CUỘC CHƠI VÀ CUỘC KIẾM TÌM TUYỆT VỌNG CỦA NGƯỜI ANH

 

Ai đã thay đổi Premier League nhiều nhất, cả về mặt lối chơi lẫn văn hoá bóng đá? Sẽ nhiều người trả lời câu hỏi ấy bằng cái tên duy nhất: Arsene Wenger. Đúng. Wenger đã làm điều đó, nhưng chỉ là góp một phần lớn làm nên điều đó mà thôi. Chúng ta còn nhắc nhiều tới ông, về cách ông đã làm với Arsenal ở những ngày đầu tiên mà thực tế, có nhiều chi tiết chúng ta vẫn còn chưa biết hết. Và cũng nên kể ra đây vài chi tiết ấy, để hiểu rằng Wenger vĩ đại thế nào, kể cả là khi ông không thể vô địch Premier League trong hơn 1 thập niên vừa qua, với những mỉa mai nhận về kiểu như “chú Tư” mà chủ yếu đến từ nhiều người có khi còn chưa ra đời khi bắt đầu Wenger lập danh ở nước Anh.

Có một nghi vấn mà nhiều người nói đến chuyện ai mới là người thay đổi Arsenal từ 1 đội bóng chủ yếu chơi khô cứng, cứ dẫn 1-0 là co về phòng thủ và sử dụng rất nhiều bẫy việt vị thời đầu thập niên (19)90s sang một đội bóng chơi ban chuyền ngắn, xây dựng lối chơi, tổ chức bóng từ tuyến dưới. Ngày ấy, Arsenal đá với đối thủ nào đi nữa thì khán giả đội bạn cũng thường đồng thanh hô lên “boring, boring Arsenal” để chế nhạo họ. Nhưng rồi Arsenal trở thành một trong những đội bóng đầu tiên chơi “sexy” ở Premier League, sexy đến độ người ta gọi họ là “thêu hoa dệt gấm”. Và thay đổi ấy được nhiều người nhắc đến công Bruce Rioch, người chỉ huấn luyện Arsenal đúng một mùa trước khi Wenger nắm quyền. Nhưng chính mùa ấy Arsenal đã chuyển sang ban chuyền ngắn rồi. Và cũng chính mùa ấy, Denis Bergkamp, người sẽ được nhắc tới ở dưới, đã góp mặt ở Arsenal. Vậy là thuyết hồ nghi bắt đầu. Nhiều người không hiểu chuyện đã cho rằng Arsene Wenger hoá ra chỉ là kẻ ăn ké, kế thừa triết lý mà Rioch đã tạo dựng nên.

Nhưng David Dein, người đưa Wenger về Arsenal thì không nói vậy. Dein thực chất đã muốn Wenger về ngay sau khi George Graham buộc phải dừng lại. Wenger lúc đó vẫn chưa thể rời Nagoya Grampus Eight và chính Wenger đã yêu cầu Dein nên đưa ngay một Bergkamp đang chán ngán ở Inter về Highbury. Dein đã làm việc đó. Và việc mua Bergkamp cùng chuyện tuyển lựa Rioch như một HLV quá độ có thể coi là một mùa giải chuẩn bị cho Wenger, với những triết lý mà Wenger muốn thực thi ở Arsenal trong một tương lai lâu dài.

Chuyện Wenger yêu cầu các cầu thủ Arsenal thay đổi thói quen ăn uống cũng rất đáng nói. Arsenal ngày đó bị coi là một “pub team” và cầu thủ ăn uống vô độ, với bữa sáng kiểu Anh no nê trước khi ra sân tập; với đồ ăn nhanh trước khi thi đấu và sau trận đấu là nhậu, và cả ăn thi. Nổi tiếng nhất là vụ ăn thi ngay sau trận gặp Newcastle mà Steve Bould là người đã chiến thắng với…9 suất ăn tối phè phỡn. Nhưng Wenger, với lòng mê say dinh dưỡng Nhật Bản, đã chỉ khuyến khích gà luộc, cá hấp và rất nhiều rau. Sau hai tuần đầu, cầu thủ cảm thấy không hợp khẩu vị, và ngán ngẩm. Wenger thỏa hiệp 1 chút, bằng cách chọ được dùng sốt cà chua (ketchup). Đó là một thỏa hiệp khôn ngoan của người chưa có danh ở nước Anh. Nhưng đi cùng thỏa hiệp ấy là một Wenger sắt đá. Ông ăn uống đúng y khẩu phần mà ông yêu cầu cầu thủ của mình phải ăn.

Chuyện về Wenger thì nhiều, và nó cũng không phải là chủ đề chính của câu hỏi “Ai đã thay đổi EPL?”. Đúng là Wenger đã góp phần rất lớn để làm điều đó nhưng Ferguson cũng góp phần không nhỏ để thay đổi EPL (nhìn từ lối chơi của Man United) và tương tự là cả những HLV khác nữa mà có thể vì danh tiếng họ nhỏ nhoi hơn, thành công của họ không có nên họ không được nhắc tới. Cái chúng ta cần chia sẻ với nhau ở đây cụ thể hơn: những cầu thủ nào đã làm điều kỳ diệu đó? Đơn giản, cuộc chơi là của những cầu thủ trên sân và nguồn cảm hứng để tạo nên đổi thay cũng phải từ trên sân, chứ không phải bằng những câu chuyện nhuốm màu huyền thoại của những HLV huyền thoại. Và những người đầu tiên thay đổi EPL chính là những cầu thủ nước ngoài mà nổi bật nhất, tiên phong nhất là 4 cái tên: Cantona, Bergkamp, Zola và Juninho Paulista.

Cantona đến như một làn sóng mới, để người Anh bắt đầu nhận ra giá trị của một cầu thủ sáng tạo, chơi tự do, chơi kỹ thuật và có nhãn quan chiến thuật xuất sắc là như thế nào. Thành công đầu tiên với Leeds khiến Cantona được săn đón và ngay từ mùa Hè năm 1992, Cantona đã công khai đưa ra ý định của mình là sẽ đến 1 trong 3 CLB: Man United, Liverpool hoặc Arsenal. Ferguson có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất lúc đó cũng bởi lối chơi ở Man United phù hợp cho một cầu thủ sáng tạo khác kiểu người Anh chơi bóng hoàn toàn như vậy. Còn Bergkamp, chính Ferguson cũng từng muốn đưa anh về Old Trafford, từ trước khi anh chọn Inter nhưng bất thành, và bản thân Ferguson cũng chưa hình dung được lúc đó sẽ sử dụng Bergkamp bên cạnh Cantona như thế nào. Còn Zola thì khỏi nói. Ngày ấy, khi nhìn Cantona thể hiện, chiêm ngưỡng Bergkamp chơi bóng và quan sát châu Âu lục địa cùng các nền bóng đá lớn ở Nam Mỹ phô diễn, người Anh đã mơ tới 1 cầu thủ sáng tạo, một số 10 cho mình. Le Tissier có tương đối đủ điều kiện để là một người nhận lấy kỳ vọng, nhất là khi Houlliers từng cho người tiếp cận Le Tissier để hỏi xem anh ấy có gốc Pháp hay không mà chơi kỹ thuật thế. Nhưng Le Tissier không thoát khỏi “vũng lầy sinh hoạt” của những cầu thủ Anh ngày đó. Và trong cuộc đối đầu với Ý ở chính Wembley, ngày 12/02/1997, trong khuôn khổ vòng loại World Cup 1998, người Anh đã thấy Le Tissier chẳng là gì so với Zola, người đá cùng vị trí ở phía Ý. Glenn Hoddle xếp đội hình 3-4-2-1 với Le Tissier chơi cạnh McManaman ngay sau lưng Shearer. Le Tissier liên tục mất bóng, lười di chuyển, thiếu năng lượng trong khi Zola chạy như một cỗ máy. Chính Zola là người ghi bàn duy nhất (phút 19) giúp Ý chiến thắng. Đó cũng là thất bại đầu tiên của Anh trên sân Wembley ở các chiến dịch vòng loại World Cup. Nó cũng là thất bại cho thử nghiệm đầu tiên kiếm tìm 1 cầu thủ sáng tạo xứng tầm đẳng cấp thế giới của người Anh.

38509678_297479681002692_201814448745218048_o

Câu chuyện đó được kể lại để nhắc đến Zola, người chưa từng vô địch Premier League nhưng lại đổi thay Premier League rất nhiều. Khi Zola đến nước Anh năm 1996, anh đã nói rằng “Khởi đầu, lối chơi cởi mở của Premier League đã tạo điều kiện cho tôi rất nhiều, vì tôi đến từ một Serie A kèm người quá chặt”. Nhận xét của Zola và những gì Bergkamp làm với Arsenal, cũng như dấu ấn mà Juninho để lại với Middlesbrough đã thay đổi bóng đá Anh hoàn toàn. Đó không chỉ là thay đổi để hướng đến một lối chơi kỹ thuật hơn, giúp người Anh hôm nay có được những người như Dele Ali, Lingard, Foden, Hudson-Odoi… mà nó còn là thay đổi về tư duy chiến thuật thực sự.

Hãy nói về bàn thắng của Zola, ở bán kết FA Cup 1997, trước Wimbledon, trên sân Highbury, để hiểu rằng lúc ấy người Anh chơi bóng ngây thơ thế nào trước các cầu thủ nước ngoài. Zola di chuyển dí thẳng mặt hàng thủ đối phương trong khi vẫn quan sát rất kỹ đồng đội Di Matteo đang dịch chuyển vào vùng giữa của hai tuyến (hãy nhớ thật kỹ cái gọi là “vùng giữa của hai tuyến” – between the lines này). Dịch chuyển của Di Matteo khiến trung vệ phía phải của Wimbledon là Perry bị kéo theo và lập tức, Zola lao tới không gian mà Perry mới bỏ trống lại. Người đá cặp với Perry là Blackwell phải chạy theo Zola để bọc lót ở vị trí mà Perry để trống ấy. Zola nhận bóng, giật gót một cách khéo léo, chuyển hướng di chuyển về khu vực mà Blackwell bỏ trống sau khi lao ra bọc lót cho Perry. “Bum”, một cú dứt điểm gọn, Zola mở tỷ số. Cặp trung vệ Wimbledon vẫn chưa hoàn hồn.

Còn Juninho cũng có những tình huống tương tự kiểu “dạy người Anh đá bóng” như thế. Juninho, cũng như Zola, dù chưa bao giờ vô địch Premier League nhưng đã được coi là một trong những cầu thủ hay nhất Premier League ở thời của mình. Chính Ferguson nhận xét rằng anh mới là cầu thủ xuất sắc nhất Premier League và thực sự ông tiếc vì không mua được anh. Trận gặp Chelsea năm 1997 của Juninho nói lên tất cả. Nhận bóng ở biên trái, Juninho dùng kỹ thuật dắt bóng lách qua Denis Wise và Di Matteo. Sau đó anh vượt qua tiền vệ thứ 3 của Chelsea là Burley rồi chuyền cho Beck, người cũng đang di chuyển vào vùng giữa của hai tuyến. Beck dừng 1 nhịp rồi bấm bóng vào vòng cấm và Juninho băng vào và cầu thủ chỉ cao 1m70, chiều cao cực khiêm tốn so với những hậu vệ Chelsea, bật cao lên đánh đầu tung lưới đối thủ. HLV Bobby Robson đã nhận xét về Juninho rằng “Tôi chả hiểu Juninho chạy bằng động cơ gì. Anh ta bắt kịp tốc độ cao nhất của cuộc chơi. Anh ta không hề mệt mỏi, và anh ta thậm chí áp sát cướp bóng ngay khi cần. Anh ta là sự kết hợp đúng nghĩa của một số 10 Brazil với một số 9 điển hình kiểu Anh”.

Và Dennis Bergkamp, dĩ nhiên phải nhắc tới Bergkamp nếu nói đến những ngôi sao thường xuyên khai thác cực tốt vùng giữa của hai tuyến. Bergkamp, với 87 bàn và 93 kiến tạo cho Arsenal, đã luôn được nhớ tới với lối nhận bóng ở ngoài vòng cấm, chếch phía bên trái, sau đó mở bộ và cứa lòng chân phải vào góc xa. Đã quá nhiều bàn ghi cho Arsenal được Bergkamp thực hiện ở khu vực ấy, khu vực mà mãi về sau này người Anh mới hiểu giá trị của nó: vùng giữa của hai tuyến. Và bản thân Bergkamp (cũng như Zola, Juninho) đã cho người Anh hiểu rằng thể lực của các cầu thủ nước ngoài kinh khủng thế nào. Juninho từng chiến với mọi hậu vệ bẩn thỉu nhất của Anh, như Francis Benali chẳng hạn. Và Bergkamp thì đến tận năm 33 tuổi (mùa 2003/04), anh vẫn là cầu thủ chạy nước rút 60m nhanh thứ 3 Arsenal (sau Henry và Pennant). Còn chơi rắn ư, cuộc sống Premier League của Bergkamp có 4 thẻ đỏ trực tiếp thì trong đó có 1 giật chỏ, 1 xô ngã đối thủ và hai cú tắc bóng theo kiểu “ăn chân là chính”. Nhưng chính vẻ ngoài mảnh mai của họ đã khiến người Anh lầm tưởng, một lầm tưởng mà sau này họ phải thay đổi chính mình.

Bây giờ thì quay lại với cái gọi là vùng giữa của hai tuyến – between the lines. Khi Cantona sang Premier League, anh nhận ra rằng lối chơi chủ yếu, và cơ bản, và rập khuôn của các đội bóng Anh là hàng thủ 4 người dàn hàng ngang. Lối chơi “cổ kính” ấy phù hợp để đối phó khi kèm 2 trung phong đá hàng ngang cạnh nhau của đối thủ. Và khi chơi như vậy, sự bọc lót là không có, mối liên lạc giữa hàng thủ với hàng tiền vệ cũng không có. Thảo nào ngày ấy hàng thủ của các đội bóng Anh ngoài việc phất bóng dài lên hoặc đưa ra biên thì không có phương án nào để tổ chức từ sân nhà. Và nguy hiểm hơn, vùng giữa tuyến phòng ngự của người Anh (tức tuyến tấn công của đối thủ) với tuyến tiền vệ của người Anh và đối thủ là vùng bị bỏ trống. Và chỗ nào bị bỏ trống, chỗ đó cần được khai thác hiệu quả.

Cantona, Bergkamp, Zola, Juninho, rồi cả những Kinkladze, Asanovic, Suker, Henry… đã khai thác rất tốt cái vùng giữa hai tuyến ấy. Khái niệm 1 tiền đạo lui về sâu hơn để khai thác khoảng trống này, đồng thời hỗ trợ hàng tiền vệ, làm cầu nối giữa hàng tiền vệ với tiền đạo, chuẩn bị không gian để bứt tốc khi cần đã bắt đầu được truyền dạy cho người Anh, bằng chính những bàn thắng mà các cầu thủ sáng tạo nước ngoài đã ghi được vào lưới các đội bóng Anh. Từ đó, khái niệm cần một tiền vệ trung tâm kéo lùi lại sâu hơn để trấn giữ khoảng trống này cũng bắt đầu được người Anh luyện tập dần. Và đó là lúc họ nhận ra rằng: 4-2-3-1 khác thế nào với 4-5-1 hay 4-1-3-1-1 (thực chất là 4-1-3-2 với 1 tiền đạo lùi về vùng giữa của hai tuyến) khác với 4-4-2 thế nào. Ngay cả chúng ta thôi, những người xem bóng đá đơn thuần, cũng chưa hẳn đã hiểu hết tại sao chỉ có 3 tuyến (hậu vệ – tiền vệ – tiền đạo) mà lại có thể có đến 4 lớp số trong việc mô tả 1 sơ đồ. Tất cả là do sự tiến hoá của chiến thuật, với việc khai thác/kiểm soát tốt vùng giữa của hai tuyến mà thành. Đó cũng chính là sự tiến hoá mà người Anh đi chậm so với thế giới 1 nhịp, bởi đơn giản, họ đầu tiên cứ ngỡ rằng hiệu quả của nó chỉ đến từ kỹ thuật cá nhân của các cầu thủ ngoại nhập tài năng đơn thuần.

Bây giờ, bóng đá Anh đã gần với thế giới, đến mức có thể nói là trùng khớp với nhau về độ cập nhật. Nhưng độ trùng khớp ấy, mỉa mai thay, vẫn đến từ những HLV ngoại nhập, những người sẽ làm dậy sóng Premier League 2018/19 này như Pep, Sarri, Mourinho, Klopp, Pochettino, Emery. Còn những HLV Anh thì sao? Họ chưa có cơ hội chứng tỏ mình hay họ quá bảo thủ, chủ quan? Có lẽ, họ nên nhớ đến bài học của những người đi trước, những người cứ mải mê kiếm tìm, đến tuyệt vọng, những cầu thủ tài năng ở đẳng cấp thế giới để sánh tầm với những ngôi sao sáng tạo như Platini, Baggio, Rivaldo… Thời ấy, họ từng cho rằng phải có một “Maradona của Anh” thì mới tạo ra được sức mạnh cho bóng đá Anh mà dường như quên mất rằng nếu thay đổi chính bản thân mình, đổi mới tư duy của mình, xây dựng một cách làm bóng đá biết học hỏi từ các vùng, các quốc gia khác, họ đã từng có cơ hội để biến những Gascoigne, Le Tissier, McManaman… trở thành những ngôi sao có thành tích khác hẳn.

ZIDANE: DI SẢN VÀ TƯƠNG LAI

Zidane mãi mãi vẫn là một cái tên để bàn luận trong thế giới những người yêu bóng đá. Bàn luận đúng nghĩa chứ không phải con người để gây tranh cãi như Cristiano Ronaldo hay Messi, những thiên tài đương đại mà một nửa là ủng hộ viên, một nửa là những kẻ thù ghét. Với Cristiano Ronaldo và Messi, những kẻ thù ghét họ sẽ chỉ nhìn thấy sự thù ghét, và sẵn sàng bị nó che mờ mắt để phủ nhận tài năng mà họ đã có, đã minh chứng, đã ghi dấu. Cũng đơn giản thôi, vì họ bị đẩy thành 2 mũi đối đầu nhau suốt cả 1 thập niên dài, đối đầu đến mức kẻ thích người này chính là kẻ ghét người kia và ngược lại.

Còn Zidane thì khác. Những người không thích Zidane thì đầy rẫy nhưng không ai phủ nhận được ông. Và ông chỉ cần 1 trận thôi, trận thắng Brazil ở World Cup 2006, để thuyết phục tất cả. Đó chính là trận đấu đẹp nhất của Zidane trong sự nghiệp, khi ông khiến cả dàn sao Brazil, từ Ronaldo cho tới Ronaldinho, đều trở thành vai phụ. Và chính từ sự ghi nhận mà Zidane đã có ấy, người ghét Zidane gần như là không có, kể cả khi ông húc đầu vào ngực Materazzi ở chung kết năm ấy, cú húc đầu mà nhiều người cho rằng “ngu dốt, ích kỷ, ngạo mạn và thiếu chuyên nghiệp”. Họ có thể không ưa Zidane chứ họ không thể ghét ông. Đơn giản, Zidane là một cá nhân “lưỡng diện”: có cả khuôn mặt thánh thần lẫn khuôn mặt của qủy dữ.

Bây giờ Zidane đang nghỉ ngơi, sau khi đã trở thành HLV vĩ đại nhất của Real Madrid kể từ kỷ nguyên Florentino Perez. Ông sẽ có chọn lựa nào? Đó hầu như vẫn là một bí ẩn, nhưng bí ẩn ấy nhiều khi không khó đoán. Song, Zidane có về đâu đi nữa, thứ ông để lại cho đến bây giờ vẫn là một di sản quá lớn, một di sản mà chúng ta sẽ còn phải nhắc tới rất nhiều.

38405058_295501421200518_1643889627213332480_o

DI SẢN Ở REAL

Người ta nói về Zidane bằng hai tiếng “may mắn” rất nhiều lần rồi kể từ khi ông ngồi lên ghế huấn luyện ở Santiago de Bernabeu. Cái sân vận động ấy có thể sẽ được đổi tên thành Florentino Perez không biết chừng, nếu như 3 chức vô địch Champions League liên tiếp mà ZIdane mang lại là nền móng để Lopetegui hoặc HLV nào đó sau này kế tục được và vượt qua thành tựu của Real thập niên (19)50s. Nhưng đó là chuyện của xa vời. Chuyện của Zidane không phải là may mắn. Không có ai may mắn liên tục đến thế suốt 3 lần liền. “Họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai”. Người ta vẫn nói thế mà tại sao cái phúc trùng lai của Zidane lại bị coi là một chuỗi may mắn phủ nhận toàn bộ nỗ lực.

Zidane thực chất không thể hiện ra một diện mạo bóng đá rõ ràng, như Pep Guardiola, như Mourinho, hay như Jurgen Klopp. Người ta sẽ nói thứ bóng đá mà Zidane đã huấn luyện là thứ bóng đá gì, với đặc trưng nào? Thực sự khó định nghĩa, nhất là khi người ta vẫn xem bóng đá theo kiểu cũ. Thực ra, bóng đá hiện đại đã khác nhiều rồi. Những cái gọi là bản sắc, là diện mạo, là định tính sẽ ngày càng hiếm hoi hơn khi sự chia sẻ kiến thức ngày một dễ dàng hơn, tốc độ hơn, rộng và sâu hơn. Các HLV sẽ dịch chuyển gần hơn nữa về việc xác định triết lý bóng đá hơn là diện mạo lối chơi. Từ triết lý bóng đá mà họ theo đuổi ấy, họ có thể phát triển nó theo cách nghĩ riêng của mình. Đơn cử như triết lý Transitional Play (chuyển đổi nhanh trạng thái) chẳng hạn. Diego Simeone, Mourinho, Klopp, Ranieri, Pochettino… đều theo đuổi triết lý ấy nhưng cách thực hành của họ lại khác nhau rất nhiều. Và chính cách thực hành đó (chứ không phải diện mạo đội bóng) định nghĩa thứ bóng đá của họ.

Zidane không phải ngoại lệ. Và ông đã thể hiện nó ở ngay trong lần đầu tiên trong đời dẫn dắt một CLB lớn. Real dưới tay của Zidane là một đội bóng “nhuyễn thể”, một dạng thủy ngân. Nó không định hình cụ thể lối chơi mà sẽ để từng trận cầu, với từng đối thủ, định hình lối chơi ấy. Và thuỷ ngân là một thứ kịch độc. Đụng vào nó, các đối thủ tổn thương cũng là chuyện bình thường.

Phải thừa nhận rằng, Zidane hiện là một HLV thay người rất xuất sắc. Trận chung kết Champions League 2018 vừa rồi là một minh chứng rõ nét nhất. Bale không phải cầu thủ có được thể trạng tốt nhất và Zidane không để anh ta trong đội hình xuất phát. Nhưng khi trận cầu bước sang hiệp 2, với bàn gỡ 1-1 của Sadio Mane, quyết định đưa Isco ra sân và tung Gareth Bale vào sân đã thay đổi tất cả. Bale đã có bàn thắng như múa ballet, bàn thắng phế bỏ vị trí bàn thắng đẹp nhất lịch sử các trận chung kết Champions League của chính Zidane. Đó cũng là bước ngoặt để Liverpool không thể gượng lại nổi và Karius với sự bối rối của kẻ thua cuộc đã trở thành một kẻ bị chế nhạo đáng thương đến tận bây giờ.

Trận chung kết đó, hiệp 1 gần như Real không phô diễn hết khả năng của mình. Họ giữ một lối chơi bình thản mà mục đích của nó là để tiêu hao sức lực của một Liverpool luôn mang thói quen nhập cuộc ào ạt cùng lối chơi gegenpressing chủ yếu dựa trên những pha quây, chặn, áp sát ở phần sân của đối phương. Nhưng khi trận đấu đã trải qua 2/3 thời gian, đồng nghĩa với việc Liverpool không còn đủ sức để theo đuổi lối chơi điên cuồng đến kiệt sức kia, Zidane mới tiến hành thay người, và bắt đầu để Real thể hiện sự nguy hiểm của mình. Đó là sự may, hay là cái khôn ngoan của một con người quá lọc lõi trên những vận động trường?

1 năm trước đó, cũng chung kết Champions League, trước Juve, Real cũng không quá nhiệt ở hiệp 1. Zidane thừa hiểu mỗi đối thủ đã vào được đến bán kết, chung kết Champions League ở thời đại này đều tiềm ẩn những nguy hiểm vô cùng. Nếu xem thường đối thủ, vùng lên mà đá như vũ bão, cậy vào sức mạnh hàng công của mình mà ngạo mạn, rất có thể chính Real sẽ phải trả giá. Và hiệp 1 các trận cầu lớn của Real dưới thời Zidane luôn là khoảng thời gian họ muốn bào mòn thể lực đối thủ vì sự thiếu kiên nhẫn của đối thủ ấy. Đó cũng là lúc Zidane mổ xẻ những nhược điểm mới chỉ xuất hiện của đối thủ ở ngay trong trận cầu. Từ đó, các quyết định điều chỉnh chiến thuật ở hiệp 2, các quyết định thay người của ông mới được coi là chuẩn xác và tinh tế. Cái đó là may mắn, hay là sự lọc lõi của một một người khôn ngoan với bề dày kinh nghiệm trận mạc trên các vận động trường?

38509180_295501404533853_7113813156236886016_o

Vậy thì bây giờ, khi Zidane ra đi, ông có để lại một Real hoang phế hay không, nhất là khi Cristiano Ronaldo cũng sang Juve? Lopetegui sẽ có những phương án khác, cách tiếp cận khác, cũng có thể là triết lý khác và lối điều chỉnh trong trận cũng khác. Thành hay bại, đó là câu chuyện của tương lai nhưng có thể nói, không ai có thể phủ nhận được Lopetegui thừa hưởng một di sản rất lớn mà Zidane để lại. Đó là một Real không cần Ronaldo nhưng vẫn tiềm ẩn những sức mạnh đáng kể, mà đáng kể nhất là Asensio, con người đang để lại dấu ấn rất lớn, con người đã trưởng thành rất nhiều dưới bàn tay Zidane, và đang cho thấy một hình ảnh của Zidane trong màu áo trắng thời đầu thế kỷ 21.

Trong trận thắng Juve 3-1 ở ICC 2018, Asensio càng cho thấy anh là cầu thủ quan trọng thế nào với Real. Không phải như Ronaldo, một cầu thủ tấn công có xu hướng chơi dạt biên với kỹ thuật và tốc độ tuyệt vời của mình, Asensio chơi rộng hơn, như một ông chủ, một bộ não trên hàng công. So sánh Asensio với Zidane thời galactico 1.0 tất nhiên là khập khiễng, nhưng nói gì thì nói, với tầm hoạt động rộng, khả năng kiến tạo cùng ý thức hỗ trợ phòng ngự của mình, chính Asensio sẽ là ngôi sao lớn của Real kể từ mùa giải này. Nhìn cách anh chơi ăn ý với tân binh Vinicius, chúng ta có thể hình dung tại sao Real vẫn còn bình thản như thế sau khi Ronaldo ra đi. Chính sách chuyển nhượng cầu thủ dưới 23 tuổi mà họ theo đuổi đang cho thấy nó là một công thức hiệu quả và khoa học, nhất là khi cầu thủ bước vào độ chín nghề nghiệp từ sớm như ở thời đại này. Và một trong những người tạo dựng ra nền tảng ấy cũng là Zidane, người đã mang Varane về Bernabeu năm xưa để bây giờ, Varane đã là nhà VĐTG và có thể được xem là một trong những trung vệ hàng đầu thế giới hiện nay.

38503204_295501427867184_8108442949659918336_o

Đúng là Zidane ra đi để lại một Real không Ronaldo cho Lopetegui nhưng hãy nhìn vào cái trục Varane – Casemiro – Asensio mà ông để lại cho người kế nhiệm mình. Tất nhiên, Real còn Ramos, còn Kroos, còn Modric, còn Bale… nhưng cái trục kia mới đúng là di sản của Zidane đúng nghĩa. Có Zidane, Casemiro mới trở thành cầu thủ trụ cột của Real 3 mùa giải qua. Có Zidane, Asensio mới là cái cây lớn lên mà không sợ bị yếm thế bởi cái bóng quá lớn của Ronaldo – Bale. Họ mới là tương lai của Real, chứ không phải một cầu thủ đã ngoài tuổi 30 như Ronaldo, cầu thủ bây giờ chỉ còn là hoài niệm.

DI SẢN Ở LES BLEUS

Black – Blanc – Beur là cách mà người ta nói về tuyển Pháp suốt hơn 2 thập niên qua. Zidane là gì trong 3 chữ ấy? Ông là Beur, cách gọi ám chỉ những cầu thủ Bắc Phi. Và ông sẽ vẫn là một “beur” vĩ đại nhất của Les Bleus, một “beur” vẫn chưa thấy được ai sẽ là truyền nhân đủ sức chinh phục ngai vàng mà ông còn để trống.

Lẽ ra đã không thể có một Zidane như thế đối với bóng đá Pháp nếu số mệnh đã cho một lựa chọn khác. Và nếu số mệnh chọn lựa ngược chiều với những gì đã xảy ra, thậm chí chức vô địch lần thứ 2 ở Nga vừa rồi cũng chưa chắc đã tồn tại.

1953, mười bảy tuổi, chàng trai Smail Zidane bỏ xứ và làng, ngược lên phương bắc để tới nước Pháp. Ở Paris, ông đã phải ngủ ngoài trời tuyết lạnh trong tháng đầu tiên dù may mắn xin được việc làm ở 1 công trường xây dựng ở ngoại ô. Sau tháng đầu tiên, Smail chung tiền thuê một căn hộ và ở chen chúc cùng với những người cùng làng Aguemoune (miền bắc Algeria) cũng sang Paris lập nghiệp. Họ phải tằn tiện, phần lớn thu nhập đều được gửi về quê nhà cho gia đình. Họ không biết điều gì chờ đợi mình phía trước với thân phận của những người nhập cư đến từ thuộc địa của một đế quốc già nua. Với họ, mưu sinh là tất cả những gì họ nghĩ đến và tương lai cũng chẳng còn một khát vọng nào khác ngoài hai chữ mưu sinh ấy.

17/10/1961, một cuộc biểu tình tuần hành bất bạo động của những người Algeria ủng hộ Mặt trận giải phóng quốc gia (FLN, được thành lập năm 1954) xảy ra ở Paris. Đón tiếp dòng người ôn hoà ấy là những cảnh sát Pháp, với dùi cui, lựu đạn cay và súng. Cuộc đàn áp diễn ra gọn ghẽ, xác người đầy trên phố, xác người bị ném xuống sông Seine, dòng sông đỏ máu. 14 ngàn người nhập cư Algeria đã bị bắt giữ, Smail Zidane cảm thấy ngạt thở. Lần đầu tiên, nước Pháp với ông không chỉ còn là mưu sinh đơn thuần.

1962, Algeria giành được độc lập. Smail theo dòng người đi về phía Nam để hồi hương. Nhưng ông không bao giờ trở về được ngôi làng Aguemoune của mình. Ông kẹt lại ở Marseille, không phải vì lý do nào khác ngoài cái gọi là ái tình. Cô gái ấy tên là Malika, cũng đến từ Aguemoune. Và họ cưới nhau ở Marseille, chọn Castellane, khu ngoại vi phía bắc thành phố để sinh sống. Từ thân phận những người dân thuộc địa nhập cư, họ trở thành người nước ngoài trên đất Pháp. Nhưng 5 đứa con của họ thì không. Cả 5 đều là công dân Pháp hợp pháp sau này, mà người thứ 5 chính là Zinedine Zidane, người mà tháng 7/1998 gương mặt được chiếu trong hào quang ở Champs Elysees trong tiếng hô “Zizou Presidente” của hàng vạn cổ động viên Les Bleus.

Nếu biến cố tháng 10/1961 ấy, cái dòng sông máu ấy khiến Smail trở về Algeria thành công thì sao nhỉ? Ông có gặp bà Malika hay không? Nếu có gặp thì có sinh ra Zizou hay không? Và nếu có sinh ra Zizou, anh ta có chơi bóng đá hay không? Zizou có chơi bóng đá thì anh ta sẽ chơi cho màu áo nào: Algeria hay Pháp? Hàng loạt câu hỏi đó cho thấy số mệnh đã chỉ có 1 chọn lựa: Zizou phải là một “beur” của Les Bleus, và phải trở nên vĩ đại.

Cái thành phố mà Zidane lớn lên, thành phố mà người ta vẫn nói rằng “có 3 thứ quyền lực của Marseille là: bến cảng, tòa thị chính và CLB bóng đá OM”, đã dạy cho ông tất cả những mánh khoé, sự tinh ranh, cái lọc lõi của nó. Tất cả những thuộc tính ấy đã được Zidane đưa vào trong lối chơi của mình cũng như cách huấn luyện của mình sau này.

World Cup đầu tiên của Zidane ông ghi dấu ấn không chỉ từ những bàn thắng ở trận chung kết, mà bằng thẻ đỏ, trong trận gặp Arab Saudi, vì lỗi cố ý đạp lên ngực đối thủ khi đối thủ đã ngã. World Cup cuối cùng của ông trong màu áo cầu thủ cũng là dấu ấn của cái thẻ đỏ, bên cạnh trận đấu hay nhất sự nghiệp trước Brazil. Đó là cái chất tháu cáy của dân ngoại ô Marseille, chất tháu cáy của những người nhập cư luôn bị đưa ra ngoài lề xã hội. Nó là một phản kháng lại vốn được chất chứa từ những lần chống chọi lại với cuộc đời, chất chứa sâu trong tiềm thức. Đó cũng là một bộ mặt trong cái lưỡng diện của Zidane và bộ mặt đó khi đã xuất hiện, nó sẽ khiến người ta còn phải nhắc đến rất nhiều. Cái chất tháu cáy ấy cũng đã hiện ra vài lần khi Zidane làm HLV, mà điển hình nhất là lần bước lên sát đường biên cướp diễn đàn chỉ đạo trong ánh mắt lạ kỳ của Ancelotti. Khi ấy, hình bóng một HLV, một ông chủ đội bóng đã chính thức lộ diện rồi.

Với Les Bleus, nếu nhắc đến di sản của Zidane, có lẽ nhiều người sẽ chỉ nói đến chức vô địch 1998 và 2000, hoặc trận cầu tuyệt vời trước Brazil năm 2006. Nhưng thực chất, di sản của ông vượt xa rất nhiều. Nó không chỉ là di sản về chuyên môn mà còn là sự ghi nhận và ảnh hưởng văn hoá. Nó là một khẳng định dõng dạc của những dòng người nhập cư, mà một trong số đó, là chung tuyến đường ngược lên phương bắc của Smail Zidane 17 tuổi.

Thực chất, những trận đầu tiên của Les Bleus ở World Cup 1998 chưa thu hút người Pháp nhiều. Người Pháp mê rugby hơn bóng đá. Nhưng những chiến thắng, đặc biệt là những chiến thắng thần kỳ đến thót tim như bàn thắng vàng trước Paraguay, pha luân lưu cân não với người Ý của Baggio, cú lội ngược dòng kỳ dị trước Croatia đã khiến người Pháp hưng phấn hơn với Les Bleus của mình. Và tất nhiên, khi cơn hưng phấn lên đến đỉnh điểm, hai bàn thắng vào lưới Brazil trong trận chung kết của Zidane đã biến ông thành vị Vua mới đúng nghĩa.

Lịch sử bóng đá Pháp, từ lâu rồi, ở mỗi thời kỳ, đều có dấu ấn của những người nhập cư trong cơ thể Les Bleus. Từ Raymond Kopa cho tới Platini, từ Zidane cho tới Mbappe hôm nay, họ chính là diện mạo của Les Bleus. Bên cạnh những Blanc, tức dân da trắng, phải có những black (như Tigana, Vieira, Desailly, Thuram…) và cả beur, thứ “đặc sản bắc Phi”. Nhưng có lẽ, trừ Platini, một người nhập cư gốc Ý, sự ghi nhận cho những ngôi sao black & beur không nhiều. Chỉ đến khi Zidane xuất hiện, tất cả đều phải thay đổi. Nếu ở năm 1998 người Pháp hô vang “Zizou Presidente” thì ở 2018, cách ăn mừng của Les Bleus ở dinh tổng thống Pháp đã hoàn toàn khác. Nó thể hiện đúng những gì mà Les Bleus thể hiện trên sân: sự đa dạng về văn hoá.

Di sản của Zidane chính là điều đó: là sự ghi nhận đối với một cộng đồng ngoại vi, là sự khẳng định của những con người ngoại vi vượt trội, là tiếng nói cân bằng lại với hàng loạt vấn nạn xã hội mà dân nhập cư đã gây ra cho cơ thể nước Pháp. Nó làm người Pháp có phương tiện để thoát ra khỏi những dẫn dắt cực đoan, nhất là ở giai đoạn thế giới càng ngày càng ngập tràn trong những luồng thông tin không chân thực này.

Và chính sự khẳng định vị thế quyền năng của mình trong lòng Les Bleus, cùng với những người như 1 Thuram sinh ra lớn lên trên cánh đồng mía ở Guadeloupe; 1 Desailly sinh ra ở Accra – Ghana, Zidane đã góp phần định nghĩa lại định tính của Les Bleus. Chính người ta đã phải nhận xét về Les Bleus 1998 của Zidane là “bằng niềm say mê của mình, họ đã chứng minh khả năng kết hợp giữa người da trắng với người da màu, giữa dân bản địa và người nhập cư. Nó chứng minh rằng nước Pháp là một quốc gia không tồn tại được thói kỳ thị và một quốc gia đạt được sức mạnh từ sự đa dạng của chính mình”.

Chính nguồn cảm hứng Zidane đã khơi gợi cho rất nhiều thế hệ bóng đá sau này, như Benzema, Ben Arfa, Mbappe… Tất cả những đứa con của các gia đình nhập cư, với nguồn gốc có thể là black hay beur, với điều kiện sống ở những khu banlieues (ngoại ô) nghèo nàn, đều có quyền mơ ước một ngày mình thay đổi ngôi sao chiếu mệnh của số phận, bằng cách mà Zidane đã làm. Zidane chính là morphine của nước Pháp. Zidane cũng chính là doping cho người nhập cư. Zidane là hiện thân cho giấc mơ Mỹ phiên bản Pháp: giấc mơ đổi đời.

Và chính những con người như Zidane đã tạo ra một nền bóng đá dồi dào nhân tài tiếp nối bậc nhất thế giới hiện nay. Trên bản đồ xuất khẩu cầu thủ, Brazil, Argentina và Hà Lan đã không còn chiếm ưu thế nữa. Thời của người Pháp đã bắt đầu từ rất lâu rồi và bây giờ là thời của cả người Bỉ, người Đức nữa. Thời thế thay đổi, vì chính thế giới này đã thay đổi.

Trong cuốn sách The Mixer của Michael Cox, ở ngay chương đầu đã ghi nhận đại ý rằng “tầm ảnh hưởng của Cantona không chỉ nằm ở chỗ anh ta biến Man United thành một thế lực của Premier League mà còn là làn sóng kích thích các CLB Anh vốn dĩ khô cứng lao vào cuộc săn tìm những nghệ sỹ số 10 trên sân cỏ”. Cơn mê say những nghệ sỹ sân cỏ của người Anh hôm nay vẫn còn, khi họ vẫn bị mê hoặc bởi Hazard, bị ám ảnh bởi Cristiano Ronaldo, bị đắm chìm bởi De Bruyne… Nhưng có một thứ tài sản mà người Anh luôn thèm muốn chính là Zidane. Họ có thể biến Cantona thành một người Anh mang dòng máu bleus nhưng họ không bao giờ được thỏa cơn khát Zidane, dù chính Zidane từng nói rằng “được chơi cùng Paul Scholes là ước mơ lớn nhất”. Nhưng những nghệ sỹ sân cỏ Pháp lớn lên từ cảm hứng Zidane thì vẫn đổ về nước Anh qua mỗi thời kỳ và đó cũng là lý do có những người Anh hôm nay bắt đầu ví von Mbappe với Zidane (chỉ vì cái áo số 10) trong khi chàng trai trẻ ấy có thiên hướng của Ronaldo béo thì đúng hơn.

38521682_295501494533844_6270443770152484864_o

VÀ TƯƠNG LAI NÀO VỚI ZIZOU?

Di sản của Zidane với Les Bleus rõ ràng là quá lớn, chứ không chỉ đơn thuần trong một cái khung trẻ trung là những cầu thủ lấy cảm hứng đổi đời nhờ bóng đá từ thành công của ông, như Varane, Mbappe, Paul Pogba… hay là lối chơi đã thay đổi hoàn toàn so với 2016 mà Deschamps mới vừa áp dụng. Nhưng với di sản lớn lao như thế, Zizou có tương lai nào với Les Bleus hay không?

Đó là câu hỏi thú vị. Nó thú vị vì Zizou vừa thành công bằng chức vô địch Champions League lần thứ ba liên tiếp với Real, một kỷ lục chưa ai thực hiện được. Nó thú vị vì Deschamps vừa xuất sắc đưa Pháp lên ngôi vô địch thế giới bằng một lối chơi khôn ngoan, thậm chí đến mức lãnh cảm. Hai con người thành công với 1 vị trí mà cả hai cùng xứng đáng. Deschamps vẫn còn trong nhiệm kỳ, mà Zizou lại đang xả hơi. Có khi nào Zizou sẽ là người nối tiếp đồng đội của mình khi Deschamps cần nghỉ ngơi hay không, khi mà lịch sử Les Bleus chưa bao giờ có một HLV trưởng nào là “beur” hay “black” cả?

Đó là một câu hỏi thú vị còn chờ đáp án trả lời. Nhưng có một chi tiết mà chúng ta cũng nên quan tâm. Ông Smail Zidane đến Paris và làm việc ở công trường ngay Saint Denis, là nơi sau này là sân Stade de France mà tại đó con trai thứ năm của ông trở thành người thay đổi lịch sử bóng đá Pháp. Dường như cái tên Zidane đã gắn liền với Saint Denis, với Stade de France, với Les Bleus như là định mệnh. Vậy thì chúng ta hãy chờ đợi xem định mệnh ấy sẽ dẫn Zizou tới đâu, khi màu áo lam vẫn thèm khát có thêm những ngôi sao mới trên ngực, để khẳng định rằng họ xứng tầm ở vị trí trang trọng trong lịch sử bóng đá thế giới cùng những Brazil, Đức và Italia.