










Mở TV lên, xem một trận cầu, thứ các bạn rất cần, và có thể nói là không thể thiếu, chính là âm thanh của cuộc chơi. Âm thanh ấy có thể là tiếng hát, có thể là tiếng hò hét cổ vũ, có thể đơn giản chỉ là tiếng “pọch” của cú sút vào quả bóng khi vị trí dứt điểm ở gần với micro thu âm. Bạn có thể thích tiếng này hơn tiếng kia, nhưng bạn không thể ghét bất kỳ một âm thanh nào liên quan đến trận cầu. Nó chính là không gian, là khí quyển, là hơi thở của bóng đá. Bạn thích tiếng nào nhất, đó là cảm nhận của bạn. Còn tôi, tôi thích tiếng “păng” căng, chắc, gọn ghẽ, uy lực của những cú dứt điểm mạnh mẽ dội xà ngang hay bật cột dọc. Với tôi, đó là âm thanh của đe doạ, âm thanh báo hiệu một cuộc chơi chắc chắn nhiều điểm nhấn.
Và trong vô vàn thứ âm thanh trào ra từ TV trong một trận cầu trực tiếp, không thể nào không có tiếng của BLV. Chúng ta đừng vội vàng chê bai họ, bởi công việc của họ rất khó khăn. Trong chiếc cabinet bé nhỏ, trước màn hình cũng chẳng lớn hơn màn hình của bạn, họ phải căng mắt, tập trung cao độ, soạn ý trong đầu, ứng khẩu ngay thành những lời bình luận. Và ở trường hợp ấy, sai sót là điều không thể tránh. Ở cương vị của tôi, tôi tự thừa nhận mình không thể nào đủ khả năng, thậm chí có thể sẽ nín thinh, khi phải ngồi vào cabinet bình luận 1 trận cầu. Dù rằng, rất mỉa mai, tôi đã từng có hai lần (năm 2012 và 2014), đứng lớp ở các buổi training ngắn cho những BLV tương lai.
Nhưng thể tất cho những sai sót không có nghĩa là chúng ta không nói lại cho đúng những gì đang diễn ra đầy sai lầm trên truyền hình hôm nay. Xavi có nói rằng “trong hơn 95% dân số trên thế giới là những người mê bóng đá, chỉ có 2% thực sự hiểu bóng đá. Tôi có người bạn thân, anh ta có thể kể vanh vách mọi chi tiết, lịch sử, những sự kiện, những trận đấu nhưng thực tế, anh ta chả biết gì về bóng đá cả”. Con số của Xavi đưa ra chỉ là một bật-ra-cảm-tính chứ không thể nào có một thống kê chính xác có bao nhiêu % người hâm mộ hiểu về bóng đá. Nhưng nhận định của Xavi thì chuẩn. Số người hiểu về bóng đá thực thụ rất ít, dù rằng họ mê nó vô cùng.
Chẳng có gì phải xấu hổ nếu bạn không hiểu về bóng đá. Sẽ chỉ xấu hổ nếu ta nói mình mê bóng đá nhưng thực chất ta chẳng có cái tình yêu ấy trong tim. Cũng giống như bạn mê âm nhạc, bạn có thể đắm mình trong giai điệu, ca từ của một ca khúc nhưng bạn thực sự không hề hiểu nó được viết theo thể loại nào, ở nhịp nào, tốc độ ra sao, các tính năng nhạc cụ được sử dụng trong bài phối khí. Giữa mê say và hiểu biết là hai khái niệm khác nhau, dù rằng sự say mê có thể dẫn con người ta tới với tìm tòi và hiểu biết.
Nhưng nếu bạn là một người BLV, được xem như một “chuyên gia” bóng đá rồi, bạn không thể truyền bá một thứ “không chuẩn xác”. Dễ hiểu, sẽ có những khán giả tin vào bạn, và từ cái sai của bạn, nó sẽ biến thành một cái sai cộng đồng và nguy hiểm ở chỗ, khi cái sai cộng đồng đủ số đông, nó thành mặc định đúng thì tác hại của nó là vô cùng.
Gần đây, chắc hẳn chúng ta vẫn được nghe rất nhiều cụm từ “pressing tầm cao” từ miệng các BLV bóng đá. Tôi đã ngỡ ngàng khi được nghe nó lần đầu tiên, và tôi ngỡ ngàng hơn khi chứng kiến những trận đấu mà ở 10 phút đầu, đội A cầm bóng áp đảo tấn công đội B, BLV thản nhiên nhận xét rằng “A đang chơi pressing toàn sân rất hiệu quả ngay từ đầu”.
Điều đó cho thấy, thực sự, đang có một sự hiểu sai về pressing. Chính vì sự hiểu sai ấy mới dẫn đến cái nhận định sai mang tên “pressing tầm cao”. Tôi có thể khẳng định rằng, không có cái gọi là pressing tầm cao như thế và tôi cũng mong tất cả những bạn đọc của mình cùng hiểu rằng đó là một khái niệm tưởng tượng hoàn toàn trong bóng đá, tính ra là đến năm 2018 này.
Trước tiên, muốn hiểu thật kỹ, chúng ta cần phải hiểu khái quát pressing là gì đã. Thực chất, pressing không phải là một hành động đơn lẻ, nó là một tổ hợp các hành vi tác chiến chiến thuật từ cá nhân đến tập thể và tổ hợp đó được lên kế hoạch, hoạch định từ trước một cách khoa học. Tổ hợp hành vi tác chiến được gọi là pressing này được thực hiện khi và chỉ khi đội nhà đang không cầm bóng, với một mục đích duy nhất: để bóp nghẹt thời gian, không gian chơi bóng của đối thủ ngõ hầu đoạt lại bóng một cách nhanh nhất.
Pressing vì thế sẽ bao gồm các hành vi: quây, be, che chắn, tắc bóng, áp sát, cắt bóng, phong tỏa các khả năng chuyền bóng, di chuyển vị trí hướng đến điểm nóng (điểm đối phương cầm bóng) để cân bằng hoặc tạo ưu thế về quân số. Việc pressing vì thế được lên kế hoạch rất khoa học và kỹ lưỡng. Ví dụ, trước khi đá với Real Madrid chẳng hạn, đối thủ của họ sẽ phải phân tích khả năng mạnh yếu của từng cầu thủ Real trong việc khống chế bóng bổng, sệt, ở các không gian khác nhau trên sân; phân tích cách chơi bóng, thói quen chuyền bóng của các cầu thủ Real, đặc biệt là các trụ cột như Modric, Casemiro, Asensio… Tìm hiểu kỹ đối thủ rồi, họ mới có thể lên một kế hoạch hoàn hảo nhất có thể để khi ra sân, họ biết phải làm gì (như một phản xạ tự nhiên) để nhằm đoạt lại bóng từ những đối thủ mà mình đã học thuộc bài.
Trong pressing, người ta cũng phân loại ra nhiều loại pressing khác nhau, từ pressing toàn sân, pressing theo tuyến, pressing theo khu vực, pressing theo nhóm và pressing cục bộ. Và pressing thực sự rất khoa học ở chỗ nó coi sân bóng như một bàn cờ vây vậy. Bạn nào chơi cờ vây rồi sẽ hiểu mỗi quân cờ còn “sống” đều còn “khí”, tức là hướng phát triển của nó. Khi đã bị phong tỏa hết các tuyến, quân cờ ấy coi như hết “khí” và đã chết. Tình huống cầu thủ cầm bóng trên sân cũng vậy. Nếu có bóng ở khu vực giữa sân, rõ ràng hướng phát triển bóng của bạn là 360 độ. Còn nếu ở sát đường biên, bạn chỉ còn trước mặt, sau lưng và bên trái/phải. Chính vì thế, cầm bóng ở biên thì ít “khí” hơn là ở trung tuyến. Bởi vậy, các đội bóng khi dồn ép, quây đối thủ đang có bóng luôn có xu hướng đẩy kẻ cầm bóng vào những chỗ ít “khí” nhất. Việc cố gắng buộc đối thủ phải dạt ra biên nhiều hơn, tức dạt ra vùng “low option” đã khiến sân đấu chia thành 2 nửa: “strong side” – nơi bóng đang hoạt động – và “weak side” – nơi không có bóng. Chính vì việc sân bóng chia thành hai nửa như thế dẫn tới quân số sẽ bị dồn sang phía “strong side”. Và đó là chìa khóa để những đội bóng giỏi chuyển hướng tấn công bất ngờ như những CLB mà Pep Guardiola dẫn dắt có thể gặt hái được thành công khi phá thế pressing mà đối thủ đặt ra trước mắt mình.
Nhưng dù có phân loại khác nhau nhiều thế nào đi nữa thì tổng thể, pressing vẫn được chia thành 3 kiểu chính dựa trên 3 khu vực trải dài trên sân lần lượt là Defensive Pressing (pressing tuyến thủ -tạm dịch); Offesive Pressing (Pressing tuyến công) và Ultra Offensive Pressing (Pressing cực đoan -tạm dịch). Xem hình minh hoạ đi kèm, có thể các bạn sẽ mù mờ nhận ra rằng rất có thể cái gọi là “pressing tầm cao” mà các BLV nhắc đến chính là cái Ultra Offensive Pressing này. Cũng có thể lắm. Nhưng thực tế, giữa ultra offensive pressing và high pressure là hai khái niệm khác nhau. Giữa chúng, tuy có những điểm chồng lấn nhưng vẫn thực sự không hoàn toàn là 1. Và vì thế, không thể có cái gọi là “pressing tầm cao” mà chỉ có “pressing tuyến tấn công cực đoan” tạm dịch rút gọn là “Pressing cực đoan” hoặc tạo áp lực từ tuyến trên (High-Pressure) mà thôi.
Cơ bản, theo định nghĩa của Dan Blank trong cuốn High-Pressure xuất bản hồi 2017 thì pressing là hành động tạo áp lực lên những người cầm bóng và nó có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào trên sân. Trong khi đó, tạo áp lực từ tuyến trên lại là những nỗ lực mang tính hệ thống, có tầm nhìn với mục đích xa hơn, để tước đoạt bóng ngay tại 1/3 sân đối thủ. Pressing là những hành vi diễn ra trong các khoảnh khắc còn high-pressure là mưu lược rõ ràng.
Mưu lược ấy là gì? Rõ ràng, high-pressure có tầm nhìn mục đích xa hơn pressing. Nếu pressing chỉ là nỗ lực lấy lại bóng và khi bạn lấy được bóng, coi như nỗ lực pressing đã tựu thành thì high-pressure xác định rõ việc tước đoạt bóng ở 1/3 sân đối thủ cũng lập tức mở ra cơ hội ghi bàn cho đội nhà. Đặc biệt, khi bóng đá hiện đại chú trọng phần xây dựng lối chơi (build-up) ngay từ hàng thủ, việc chơi high-pressure chắc chắn sẽ không chỉ chặn đứng đối phương xây dựng lối chơi mà còn có thể mở cửa chiến thắng. Đơn giản, ở phần 1/3 sân đối phương, những cầu thủ đoạt được bóng trong chân địch đều là các cầu thủ tấn công và sáng tạo. Với việc lấy lại được bóng ở một không gian cục bộ như thế, tình huống xảy ra sẽ luôn là 2 vs 2 hoặc 3 vs 3 và nếu chơi linh hoạt vị trí (positional play) tốt, một cầu thủ tuyến tiền vệ băng lên tạo áp lực quân số lúc đó có thể khiến đội bóng chuyển ưu thế thành 3 vs 2 hoặc 4 vs 3.
Quay nguợc lại với pressing, thường thì HLV sẽ là người lên kế hoạch cho trận đấu và ở tình huống đội mất bóng vào chân đối thủ, HLV sẽ có các nguyên tắc khác nhau, lựa chọn khác nhau. Thứ nhất, ông có thể để cho đội bóng của mình tổ chức tạo áp lực ngay để giành lại bóng một cách nhanh nhất. Thứ hai, ông có thể quyết định lựa chọn khu vực nào ở trên sân mới là điểm quyết định để đội bóng của mình bắt đầu chơi pressing. Thứ ba, ông có thể quyết định các kỹ năng phòng ngự nào sẽ được sử dụng thường xuyên nhất để đoạt lại bóng như bọc lót, phán đoán cắt bóng, hai người áp sát 1 người… Thứ tư, quyết định lựa chọn những khu vực nào trên sân để dồn đối thủ phải chơi bóng thường xuyên ở đó nhất. Thứ năm, xây dựng các kế hoạch dự phòng cùng chỉ dẫn cụ thể cho nó để sử dụng khi chiến lược cơ bản không thể ứng dụng. Thứ sáu, xác định rõ các giải pháp khả thi để xử lý các tình thế quan trọng nhất mà đối thủ đang cầm bóng. Rõ ràng, trong tất cả các lựa chọn kể trên, chúng ta đều nhận thấy nó mang hơi hướng phòng vệ, với mục tiêu chủ yếu là lấy lại quyền kiểm soát bóng. Không có các chỉ dẫn nào liên quan đến phản kích, thứ mà high-pressure chú trọng tới. Do đó, nếu có điểm chung nào giữa high-pressure và ultra offensive pressing, chúng ta chỉ có thể nói rằng high-pressure CŨNG CÓ THỂ là việc tổ chức pressing cực đoan ở những khu vực cụ thể phía 1/3 sân đối thủ và tổ chức tấn công nhanh ngay sau khi việc pressing ấy tựu thành.
Vậy thì tại sao các chuyên gia nước ngoài không sử dụng thuật ngữ high-pressing, hay nôm na như chúng ta gọi là “pressing tầm cao”?. Thực tế, high-pressure chưa chắc đã phải có pressing trong đó bởi nếu hành vi đoạt bóng là tự phát thuận theo tình huống thì nó không phải là pressing (vốn dĩ là tổ hợp hành vi được lên kế hoạch trước). Nhưng nên nhớ, cái tự phát nếu có của high-pressure không phải là kiểu hứng lên chơi năm ăn năm thua mà nó là những kỹ năng được luyện nhuần nhuyễn thành phản xạ. Khi phản xạ trở thành có điều kiện, và được thực hiện đồng điệu bởi các cầu thủ đồng tuyến, nó sẽ thành lối chơi.
Như vậy, chắc chắn sẽ không có cái gọi là “Pressing tầm cao” như chúng ta vẫn được nghe. Pressing là pressing; tạo áp lực là tạo áp lực. Còn tầm cao hay không, nó chính là tầm nhìn của HLV, của cầu thủ chứ không chỉ là vị trí tranh chấp quả bóng đơn thuần
(Về pressing, các bạn có thể đọc thêm tham khảo bài mình viết đã lâu ở link này https://www.facebook.com/search/top/q=Minh%20Quang%20Hà%20pressing%20)


19/05/2012, sân Allianz Arena, phút 83, Mueller ghi bàn mở tỉ số trận chung kết Champions League. Chelsea lúc ấy đã kết thúc Premier League ở vị trí thứ 6 và bàn thắng của Mueller mang đến một điềm báo không lành rằng đội bóng của Abramovich có thể không được dự Champions League ở mùa kế tiếp. Thorgan quay sang nói đùa “Em gọi cho sir Alex Ferguson nhé?”. Eden không thích câu đùa ấy lắm. Eden đang không có tâm trạng nào để đùa giỡn cả. Anh hồi hộp và lo lắng thực sự.
Hai phút sau câu nói đùa kia của Thorgan, Drogba ghi bàn quân bình tỉ số. Eden nhảy bật ra khỏi ghế ăn mừng. Trong ký ức của anh, đó là bàn đánh đầu mạnh mẽ nhất, uy lực nhất. “Anh là fan của Chelsea mất rồi”, Kyllian, cậu em khác của Eden lại đùa. Lần này, sự đùa giỡn đó được chấp nhận. Nhưng sự hồi hộp thì vẫn còn nguyên.
Loạt luân lưu cuối cùng, người đứng trước chấm 11m là Drogba. Cầu thủ Bờ Biển Ngà bình tĩnh dứt điểm tung lưới Bayern. Các cầu thủ Chelsea lao ra sân ăn mừng. “Vâng, ý tôi đã quyết rồi. Tôi sẽ chơi cho nhà ĐKVĐ Champions League”, Eden nói trong sự vui mừng khôn tả.
Ít ai biết rằng, trước khi Chelsea đi đến trận chung kết, đã có một cuộc điện thoại từ Drogba gọi cho Eden Hazard. “Anh nghe là Chelsea đang đề nghị với chú và chú đang suy nghĩ. Nghe này, ký hợp đồng với Chelsea là quyết định sáng suốt nhất đời anh. Anh đã có 8 năm kỳ diệu ở đây. Tới đây chơi cùng bọn anh đi. Tin anh, chú sẽ vươn tới tầm của Messi và Ronaldo”. Đó là tất cả những gì Drogba đã nói với Eden Hazard trong lần đầu tiên gọi điện thoại. Khi Drogba tới Chelsea, Hazard mới chỉ là cậu nhóc 13 tuổi. Và với Hazard, người vẫn coi Drogba là một siêu tiền đạo thuộc hàng số 1 thế giới, những lời Drogba nói luôn là một bảo chứng vô cùng quan trọng.
Phải thừa nhận rằng, lời mời gọi của Drogba chỉ là một trong những nguyên nhân thúc đẩy Hazard đến với Chelsea nhưng nó chính là nguyên nhân quan trọng nhất. Trước Drogba, Abramovich thậm chí đã khiến Hazard choáng ngợp khi mời anh tới lai rai trên du thuyền của mình. Để tới gặp Abramovich, Hazard đã hủy ngang cuộc hẹn đi xem phim ở LHP Cannes với bạn bè. Nhưng sức tác động từ Abramovich chưa đủ mạnh. Hazard lúc ấy chắc chắn sẽ rời Lille nhưng anh muốn chơi ở Champions League, sân khấu duy nhất có thể biến anh thành cầu thủ cùng chiếu với Messi hay Ronaldo. Mà lúc gặp Abramovich ấy Chelsea đang bị Man United bỏ lại đằng sau tới 20 điểm (tháng 3/2012). Nguy cơ không Champions League là quá rõ. Và Eden lại đang có những lựa chọn khác, ở những nơi có Champions League.
Chính Drogba, với cú điện thoại (mà thực ra là gọi từ máy của Gervinho) cùng pha gỡ hòa trong trận chung kết, mới là kẻ thuyết phục được Eden Hazard. Còn Gervinho, trớ trêu thay, người đồng đội của Hazard ở Lille từ 2009-2011 lúc đó lại đang khoác áo Arsenal, đội bóng cũng muốn Eden Hazard lắm lắm.
2012/13, Eden Hazard đến với Chelsea, dưới tay HLV Di Matteo. Hồi tháng 3/2012, Di Matteo đã nói với trợ lý Eddie Newton “thứ bóng đá chúng ta đang chơi hôm nay chán phèo. CĐV muốn chúng ta chơi cống hiến hơn nữa. Thử xem chúng ta có những cầu thủ sáng tạo nào nào?”. “Juan Mata”, Newton đã trả lời và Di Matteo đã lắc đầu ngán ngẩm mà rằng “Thì đúng rồi. Nhưng chúng ta cần thêm 2-3 cầu thủ như thế nữa. Một mình Mata không đủ giải trí cho fans đâu”.
Lúc đó cũng là khi những báo cáo của Guy Hillion (sếp tuyển trạch viên của Chelsea ở Pháp) bay về London. Hillion đã xem Hazard đá gần 30 trận với niềm say mê tột cùng. “Nó có thể chơi cánh, chơi số 10 đều được. Nó có thể tạo cơ hội ghi bàn, và biết ghi bàn. Nó có cú tiếp bóng xuất sắc, tầm quan sát xuất sắc và kỹ thuật cá nhân xuất sắc. Nó sẽ trở thành số 1 nếu chúng ta đưa nó đi đúng đường. Hãy tin tôi, nó sẽ là ngôi sao lớn”, Hillion thuyết phục như thế và tất nhiên, Di Matteo cùng Abramovich cũng tin như thế. Niềm tin ấy của họ là chuẩn xác.
Hazard ra mắt Chelsea trôi chảy, với những kiến tạo ngay từ trận đầu tiên, đặc biệt là những pha đi bóng buộc hậu vệ đối phương phải phạm lỗi trong vòng cấm. Nhưng cái gọi là khả năng vươn tới tầm của Messi hay Ronaldo thì chưa bao giờ được bộc lộ ra một cách rõ rệt. Và cũng phải mất 3 mùa bóng, Hazard mới có thể vô địch Premier League lần đầu tiên. Tính đến bây giờ, Hazard đã chơi cho Chelsea đến mùa bóng thứ 7 và cũng mới chỉ có 2 chức vô địch Premier League mà thôi. Còn Champions League ư? Điều đó vẫn còn xa vời.
Thật bất công nếu ta đánh giá một con người chỉ dựa vào các số liệu. Hazard chưa bao giờ ghi cho Chelsea được 20 bàn thắng ở một mùa giải và con số đó cho thấy anh còn xa với tầm đẳng cấp của Messi và Ronaldo rất nhiều. Nhưng hãy nhìn vào Zidane ở Real để hiểu Hazard hơn. Hazard thuộc type cầu thủ kiến tạo hơn là săn bàn và ở Chelsea, anh cũng chơi ở một vai trò để kiến tạo chứ không phải được giao phó sẽ là một mũi uy hiếp từ phía sau như Messi hay Ronaldo ở Barca và Real. Tầm ảnh hưởng của Hazard ở Chelsea là rất lớn, không khác gì tầm ảnh hưởng của hai cầu thủ kia ở CLB của họ. Và đó cũng là lý do Real chưa bao giờ rời mắt khỏi Hazard, nhất là khi Ronaldo đã ra đi.
Vậy thì với một tài năng không thể phủ nhận như thế, điều còn thiếu của Eden Hazard là gì? Dường như là một chút động lực? Chúng ta đã chứng kiến anh vô địch Premier League 2014/15 thế nào, rồi sau đó chơi ra sao ở mùa kế tiếp. Phải chăng, Hazard là con người sinh ra để săn tìm động lực và khi có nó rồi, anh lại để mất nó một cách dễ dàng?
Hay là Hazard chưa được rơi vào một đội hình “cống hiến” đúng nghĩa, như Di Matteo đã nói? Ở Chelsea, mùa đầu tiên Hazard vô địch Premier League, bên cạnh anh là Oscar, Fabregas, những cầu thủ có thể coi là có tố chất chơi bóng kỹ thuật kiểu nghệ sỹ. Rồi mùa vô địch kế tiếp thì sao? Đó là lúc sức mạnh và sự xông xáo của Kante lên tiếng chứ không phải nghệ sỹ tính mang lại sự choáng ngợp cho khán giả. Và suốt thời kỳ Chelsea của mình cho tới nay, ở Champions League, PSG vẫn luôn là ám ảnh đối với Hazard. Ở PSG, những ngôi sao trình diễn luôn đông đảo hơn Chelsea.
Đó có thể là lý giải nhưng thực sự thuyết phục thì chưa hẳn. Cống hiến hay không, đẹp mắt hay không đúng là phụ thuộc vào nhân tố con người nhưng triết lý của đội bóng luôn là nền tảng lớn nhất. Abramovich thích bóng đá giải trí nhưng thực tế những HLV ông đưa về chưa một ai thực sự mặn mòi với thứ bóng đá giải trí cả. Kéo theo đó, những con người họ mua sau này cũng luôn bị “soi gương” với quá khứ xưa cũ, quá khứ mang hình bóng sức mạnh cơ bắp, tốc độ, tính chiến đấu và tư duy thực dụng kiểu Drogba, Makelele và thậm chí là Lampard. Và đặc biệt với Hazard, một cầu thủ trưởng thành từ cái nôi chơi bóng kỹ thuật, việc làm việc cùng những HLV mang nặng tính thực dụng như Mourinho đã không giúp anh “đi đúng con đường” như Guy Hillion đã nói ngày nào.
Thật tiếc là ở Chelsea Hazard không có cơ hội được chơi cùng De Bruyne, Schurrle, Mata, Fabregas một cách lâu dài đủ để tạo thành một bộ khung sáng tạo. Nhiều lúc, có cảm giác anh lạc lõng giữa chính CLB mà anh rất yêu mến ấy, lạc lõng giữa chính chọn lựa quyết định sự nghiệp của mình năm 2012.
Hồi ấy, Arsenal và Real cũng muốn có Hazard, nhưng họ cho rằng cái giá 30 triệu bảng là quá đắt. Quả thực, với Real, để mua Hazard năm 2012 là không cần thiết nên cái giá 30 triệu bảng là đắt rõ ràng. Nhưng Arsenal thì sao nhỉ? Có lẽ, trong di sản Wenger để lại cho Emery, vụ Hazard là một sai lầm vĩ đại. Tất nhiên, ở thời điểm 2012 ấy, việc bỏ ra 30 triệu bảng cho một cầu thủ 21 tuổi là chưa từng có tiền lệ ở Arsenal nhưng không lẽ những theo dõi kiên trì của Wenger, những đánh giá tích cực của ông và đội ngũ tuyển trạch viên không đủ khiến Arsenal có thể dũng cảm quyết định? Thực sự, lối chơi của Hazard, cùng lịch sử trưởng thành trong nghề của anh cho thấy anh sẽ phù hợp hơn với một đội bóng như Arsenal. Ở đó, nếu anh được chơi cùng Oezil, Aubemayang, Lacazette hôm nay, chắc chắn anh sẽ giúp biến Pháo thủ trở lại là một thế lực cạnh tranh đáng gờm.
Cuộc sống là những chuỗi sự kiện mà nhiều khi, chỉ một quyết định thôi sẽ thay đổi các biến cố về sau rất nhiều. Với Hazard, chuỗi sự kiện kia không chỉ là kết quả từ một quyết định của riêng anh, mà còn là quyết định của những kẻ theo đuổi anh như Arsenal, Real. Và tên anh, Eden, có nghĩa là địa đàng, mỉa mai thay lại đi kèm cái họ Hazard, có nghĩa là rủi may, mạo hiểm. Chọn lựa Hazard có khi nào là chọn lựa mang tính rủi may, mạo hiểm nên các CLB kia không cố thêm một bước chân? Ngược lại, chọn lựa của chính anh phải chăng cũng đầy tính rủi may, như cái cách mà cú luân lưu của Drogba ở Allianz Arena đã góp phần để quyết định thay.
Điều gì sẽ xảy ra nếu hồi đó anh nghe theo lời đùa của Thorgan là gọi điện cho sir Alex Ferguson? Hazard ở Man United, điều đó chắc chắn sẽ là một thú vị cực lớn, đem lại những biến số cực lớn cho cục diện Premier League sau này.




Ai đã thay đổi Premier League nhiều nhất, cả về mặt lối chơi lẫn văn hoá bóng đá? Sẽ nhiều người trả lời câu hỏi ấy bằng cái tên duy nhất: Arsene Wenger. Đúng. Wenger đã làm điều đó, nhưng chỉ là góp một phần lớn làm nên điều đó mà thôi. Chúng ta còn nhắc nhiều tới ông, về cách ông đã làm với Arsenal ở những ngày đầu tiên mà thực tế, có nhiều chi tiết chúng ta vẫn còn chưa biết hết. Và cũng nên kể ra đây vài chi tiết ấy, để hiểu rằng Wenger vĩ đại thế nào, kể cả là khi ông không thể vô địch Premier League trong hơn 1 thập niên vừa qua, với những mỉa mai nhận về kiểu như “chú Tư” mà chủ yếu đến từ nhiều người có khi còn chưa ra đời khi bắt đầu Wenger lập danh ở nước Anh.
Có một nghi vấn mà nhiều người nói đến chuyện ai mới là người thay đổi Arsenal từ 1 đội bóng chủ yếu chơi khô cứng, cứ dẫn 1-0 là co về phòng thủ và sử dụng rất nhiều bẫy việt vị thời đầu thập niên (19)90s sang một đội bóng chơi ban chuyền ngắn, xây dựng lối chơi, tổ chức bóng từ tuyến dưới. Ngày ấy, Arsenal đá với đối thủ nào đi nữa thì khán giả đội bạn cũng thường đồng thanh hô lên “boring, boring Arsenal” để chế nhạo họ. Nhưng rồi Arsenal trở thành một trong những đội bóng đầu tiên chơi “sexy” ở Premier League, sexy đến độ người ta gọi họ là “thêu hoa dệt gấm”. Và thay đổi ấy được nhiều người nhắc đến công Bruce Rioch, người chỉ huấn luyện Arsenal đúng một mùa trước khi Wenger nắm quyền. Nhưng chính mùa ấy Arsenal đã chuyển sang ban chuyền ngắn rồi. Và cũng chính mùa ấy, Denis Bergkamp, người sẽ được nhắc tới ở dưới, đã góp mặt ở Arsenal. Vậy là thuyết hồ nghi bắt đầu. Nhiều người không hiểu chuyện đã cho rằng Arsene Wenger hoá ra chỉ là kẻ ăn ké, kế thừa triết lý mà Rioch đã tạo dựng nên.
Nhưng David Dein, người đưa Wenger về Arsenal thì không nói vậy. Dein thực chất đã muốn Wenger về ngay sau khi George Graham buộc phải dừng lại. Wenger lúc đó vẫn chưa thể rời Nagoya Grampus Eight và chính Wenger đã yêu cầu Dein nên đưa ngay một Bergkamp đang chán ngán ở Inter về Highbury. Dein đã làm việc đó. Và việc mua Bergkamp cùng chuyện tuyển lựa Rioch như một HLV quá độ có thể coi là một mùa giải chuẩn bị cho Wenger, với những triết lý mà Wenger muốn thực thi ở Arsenal trong một tương lai lâu dài.
Chuyện Wenger yêu cầu các cầu thủ Arsenal thay đổi thói quen ăn uống cũng rất đáng nói. Arsenal ngày đó bị coi là một “pub team” và cầu thủ ăn uống vô độ, với bữa sáng kiểu Anh no nê trước khi ra sân tập; với đồ ăn nhanh trước khi thi đấu và sau trận đấu là nhậu, và cả ăn thi. Nổi tiếng nhất là vụ ăn thi ngay sau trận gặp Newcastle mà Steve Bould là người đã chiến thắng với…9 suất ăn tối phè phỡn. Nhưng Wenger, với lòng mê say dinh dưỡng Nhật Bản, đã chỉ khuyến khích gà luộc, cá hấp và rất nhiều rau. Sau hai tuần đầu, cầu thủ cảm thấy không hợp khẩu vị, và ngán ngẩm. Wenger thỏa hiệp 1 chút, bằng cách chọ được dùng sốt cà chua (ketchup). Đó là một thỏa hiệp khôn ngoan của người chưa có danh ở nước Anh. Nhưng đi cùng thỏa hiệp ấy là một Wenger sắt đá. Ông ăn uống đúng y khẩu phần mà ông yêu cầu cầu thủ của mình phải ăn.
Chuyện về Wenger thì nhiều, và nó cũng không phải là chủ đề chính của câu hỏi “Ai đã thay đổi EPL?”. Đúng là Wenger đã góp phần rất lớn để làm điều đó nhưng Ferguson cũng góp phần không nhỏ để thay đổi EPL (nhìn từ lối chơi của Man United) và tương tự là cả những HLV khác nữa mà có thể vì danh tiếng họ nhỏ nhoi hơn, thành công của họ không có nên họ không được nhắc tới. Cái chúng ta cần chia sẻ với nhau ở đây cụ thể hơn: những cầu thủ nào đã làm điều kỳ diệu đó? Đơn giản, cuộc chơi là của những cầu thủ trên sân và nguồn cảm hứng để tạo nên đổi thay cũng phải từ trên sân, chứ không phải bằng những câu chuyện nhuốm màu huyền thoại của những HLV huyền thoại. Và những người đầu tiên thay đổi EPL chính là những cầu thủ nước ngoài mà nổi bật nhất, tiên phong nhất là 4 cái tên: Cantona, Bergkamp, Zola và Juninho Paulista.
Cantona đến như một làn sóng mới, để người Anh bắt đầu nhận ra giá trị của một cầu thủ sáng tạo, chơi tự do, chơi kỹ thuật và có nhãn quan chiến thuật xuất sắc là như thế nào. Thành công đầu tiên với Leeds khiến Cantona được săn đón và ngay từ mùa Hè năm 1992, Cantona đã công khai đưa ra ý định của mình là sẽ đến 1 trong 3 CLB: Man United, Liverpool hoặc Arsenal. Ferguson có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất lúc đó cũng bởi lối chơi ở Man United phù hợp cho một cầu thủ sáng tạo khác kiểu người Anh chơi bóng hoàn toàn như vậy. Còn Bergkamp, chính Ferguson cũng từng muốn đưa anh về Old Trafford, từ trước khi anh chọn Inter nhưng bất thành, và bản thân Ferguson cũng chưa hình dung được lúc đó sẽ sử dụng Bergkamp bên cạnh Cantona như thế nào. Còn Zola thì khỏi nói. Ngày ấy, khi nhìn Cantona thể hiện, chiêm ngưỡng Bergkamp chơi bóng và quan sát châu Âu lục địa cùng các nền bóng đá lớn ở Nam Mỹ phô diễn, người Anh đã mơ tới 1 cầu thủ sáng tạo, một số 10 cho mình. Le Tissier có tương đối đủ điều kiện để là một người nhận lấy kỳ vọng, nhất là khi Houlliers từng cho người tiếp cận Le Tissier để hỏi xem anh ấy có gốc Pháp hay không mà chơi kỹ thuật thế. Nhưng Le Tissier không thoát khỏi “vũng lầy sinh hoạt” của những cầu thủ Anh ngày đó. Và trong cuộc đối đầu với Ý ở chính Wembley, ngày 12/02/1997, trong khuôn khổ vòng loại World Cup 1998, người Anh đã thấy Le Tissier chẳng là gì so với Zola, người đá cùng vị trí ở phía Ý. Glenn Hoddle xếp đội hình 3-4-2-1 với Le Tissier chơi cạnh McManaman ngay sau lưng Shearer. Le Tissier liên tục mất bóng, lười di chuyển, thiếu năng lượng trong khi Zola chạy như một cỗ máy. Chính Zola là người ghi bàn duy nhất (phút 19) giúp Ý chiến thắng. Đó cũng là thất bại đầu tiên của Anh trên sân Wembley ở các chiến dịch vòng loại World Cup. Nó cũng là thất bại cho thử nghiệm đầu tiên kiếm tìm 1 cầu thủ sáng tạo xứng tầm đẳng cấp thế giới của người Anh.

Câu chuyện đó được kể lại để nhắc đến Zola, người chưa từng vô địch Premier League nhưng lại đổi thay Premier League rất nhiều. Khi Zola đến nước Anh năm 1996, anh đã nói rằng “Khởi đầu, lối chơi cởi mở của Premier League đã tạo điều kiện cho tôi rất nhiều, vì tôi đến từ một Serie A kèm người quá chặt”. Nhận xét của Zola và những gì Bergkamp làm với Arsenal, cũng như dấu ấn mà Juninho để lại với Middlesbrough đã thay đổi bóng đá Anh hoàn toàn. Đó không chỉ là thay đổi để hướng đến một lối chơi kỹ thuật hơn, giúp người Anh hôm nay có được những người như Dele Ali, Lingard, Foden, Hudson-Odoi… mà nó còn là thay đổi về tư duy chiến thuật thực sự.
Hãy nói về bàn thắng của Zola, ở bán kết FA Cup 1997, trước Wimbledon, trên sân Highbury, để hiểu rằng lúc ấy người Anh chơi bóng ngây thơ thế nào trước các cầu thủ nước ngoài. Zola di chuyển dí thẳng mặt hàng thủ đối phương trong khi vẫn quan sát rất kỹ đồng đội Di Matteo đang dịch chuyển vào vùng giữa của hai tuyến (hãy nhớ thật kỹ cái gọi là “vùng giữa của hai tuyến” – between the lines này). Dịch chuyển của Di Matteo khiến trung vệ phía phải của Wimbledon là Perry bị kéo theo và lập tức, Zola lao tới không gian mà Perry mới bỏ trống lại. Người đá cặp với Perry là Blackwell phải chạy theo Zola để bọc lót ở vị trí mà Perry để trống ấy. Zola nhận bóng, giật gót một cách khéo léo, chuyển hướng di chuyển về khu vực mà Blackwell bỏ trống sau khi lao ra bọc lót cho Perry. “Bum”, một cú dứt điểm gọn, Zola mở tỷ số. Cặp trung vệ Wimbledon vẫn chưa hoàn hồn.
Còn Juninho cũng có những tình huống tương tự kiểu “dạy người Anh đá bóng” như thế. Juninho, cũng như Zola, dù chưa bao giờ vô địch Premier League nhưng đã được coi là một trong những cầu thủ hay nhất Premier League ở thời của mình. Chính Ferguson nhận xét rằng anh mới là cầu thủ xuất sắc nhất Premier League và thực sự ông tiếc vì không mua được anh. Trận gặp Chelsea năm 1997 của Juninho nói lên tất cả. Nhận bóng ở biên trái, Juninho dùng kỹ thuật dắt bóng lách qua Denis Wise và Di Matteo. Sau đó anh vượt qua tiền vệ thứ 3 của Chelsea là Burley rồi chuyền cho Beck, người cũng đang di chuyển vào vùng giữa của hai tuyến. Beck dừng 1 nhịp rồi bấm bóng vào vòng cấm và Juninho băng vào và cầu thủ chỉ cao 1m70, chiều cao cực khiêm tốn so với những hậu vệ Chelsea, bật cao lên đánh đầu tung lưới đối thủ. HLV Bobby Robson đã nhận xét về Juninho rằng “Tôi chả hiểu Juninho chạy bằng động cơ gì. Anh ta bắt kịp tốc độ cao nhất của cuộc chơi. Anh ta không hề mệt mỏi, và anh ta thậm chí áp sát cướp bóng ngay khi cần. Anh ta là sự kết hợp đúng nghĩa của một số 10 Brazil với một số 9 điển hình kiểu Anh”.
Và Dennis Bergkamp, dĩ nhiên phải nhắc tới Bergkamp nếu nói đến những ngôi sao thường xuyên khai thác cực tốt vùng giữa của hai tuyến. Bergkamp, với 87 bàn và 93 kiến tạo cho Arsenal, đã luôn được nhớ tới với lối nhận bóng ở ngoài vòng cấm, chếch phía bên trái, sau đó mở bộ và cứa lòng chân phải vào góc xa. Đã quá nhiều bàn ghi cho Arsenal được Bergkamp thực hiện ở khu vực ấy, khu vực mà mãi về sau này người Anh mới hiểu giá trị của nó: vùng giữa của hai tuyến. Và bản thân Bergkamp (cũng như Zola, Juninho) đã cho người Anh hiểu rằng thể lực của các cầu thủ nước ngoài kinh khủng thế nào. Juninho từng chiến với mọi hậu vệ bẩn thỉu nhất của Anh, như Francis Benali chẳng hạn. Và Bergkamp thì đến tận năm 33 tuổi (mùa 2003/04), anh vẫn là cầu thủ chạy nước rút 60m nhanh thứ 3 Arsenal (sau Henry và Pennant). Còn chơi rắn ư, cuộc sống Premier League của Bergkamp có 4 thẻ đỏ trực tiếp thì trong đó có 1 giật chỏ, 1 xô ngã đối thủ và hai cú tắc bóng theo kiểu “ăn chân là chính”. Nhưng chính vẻ ngoài mảnh mai của họ đã khiến người Anh lầm tưởng, một lầm tưởng mà sau này họ phải thay đổi chính mình.
Bây giờ thì quay lại với cái gọi là vùng giữa của hai tuyến – between the lines. Khi Cantona sang Premier League, anh nhận ra rằng lối chơi chủ yếu, và cơ bản, và rập khuôn của các đội bóng Anh là hàng thủ 4 người dàn hàng ngang. Lối chơi “cổ kính” ấy phù hợp để đối phó khi kèm 2 trung phong đá hàng ngang cạnh nhau của đối thủ. Và khi chơi như vậy, sự bọc lót là không có, mối liên lạc giữa hàng thủ với hàng tiền vệ cũng không có. Thảo nào ngày ấy hàng thủ của các đội bóng Anh ngoài việc phất bóng dài lên hoặc đưa ra biên thì không có phương án nào để tổ chức từ sân nhà. Và nguy hiểm hơn, vùng giữa tuyến phòng ngự của người Anh (tức tuyến tấn công của đối thủ) với tuyến tiền vệ của người Anh và đối thủ là vùng bị bỏ trống. Và chỗ nào bị bỏ trống, chỗ đó cần được khai thác hiệu quả.
Cantona, Bergkamp, Zola, Juninho, rồi cả những Kinkladze, Asanovic, Suker, Henry… đã khai thác rất tốt cái vùng giữa hai tuyến ấy. Khái niệm 1 tiền đạo lui về sâu hơn để khai thác khoảng trống này, đồng thời hỗ trợ hàng tiền vệ, làm cầu nối giữa hàng tiền vệ với tiền đạo, chuẩn bị không gian để bứt tốc khi cần đã bắt đầu được truyền dạy cho người Anh, bằng chính những bàn thắng mà các cầu thủ sáng tạo nước ngoài đã ghi được vào lưới các đội bóng Anh. Từ đó, khái niệm cần một tiền vệ trung tâm kéo lùi lại sâu hơn để trấn giữ khoảng trống này cũng bắt đầu được người Anh luyện tập dần. Và đó là lúc họ nhận ra rằng: 4-2-3-1 khác thế nào với 4-5-1 hay 4-1-3-1-1 (thực chất là 4-1-3-2 với 1 tiền đạo lùi về vùng giữa của hai tuyến) khác với 4-4-2 thế nào. Ngay cả chúng ta thôi, những người xem bóng đá đơn thuần, cũng chưa hẳn đã hiểu hết tại sao chỉ có 3 tuyến (hậu vệ – tiền vệ – tiền đạo) mà lại có thể có đến 4 lớp số trong việc mô tả 1 sơ đồ. Tất cả là do sự tiến hoá của chiến thuật, với việc khai thác/kiểm soát tốt vùng giữa của hai tuyến mà thành. Đó cũng chính là sự tiến hoá mà người Anh đi chậm so với thế giới 1 nhịp, bởi đơn giản, họ đầu tiên cứ ngỡ rằng hiệu quả của nó chỉ đến từ kỹ thuật cá nhân của các cầu thủ ngoại nhập tài năng đơn thuần.
Bây giờ, bóng đá Anh đã gần với thế giới, đến mức có thể nói là trùng khớp với nhau về độ cập nhật. Nhưng độ trùng khớp ấy, mỉa mai thay, vẫn đến từ những HLV ngoại nhập, những người sẽ làm dậy sóng Premier League 2018/19 này như Pep, Sarri, Mourinho, Klopp, Pochettino, Emery. Còn những HLV Anh thì sao? Họ chưa có cơ hội chứng tỏ mình hay họ quá bảo thủ, chủ quan? Có lẽ, họ nên nhớ đến bài học của những người đi trước, những người cứ mải mê kiếm tìm, đến tuyệt vọng, những cầu thủ tài năng ở đẳng cấp thế giới để sánh tầm với những ngôi sao sáng tạo như Platini, Baggio, Rivaldo… Thời ấy, họ từng cho rằng phải có một “Maradona của Anh” thì mới tạo ra được sức mạnh cho bóng đá Anh mà dường như quên mất rằng nếu thay đổi chính bản thân mình, đổi mới tư duy của mình, xây dựng một cách làm bóng đá biết học hỏi từ các vùng, các quốc gia khác, họ đã từng có cơ hội để biến những Gascoigne, Le Tissier, McManaman… trở thành những ngôi sao có thành tích khác hẳn.
Zidane mãi mãi vẫn là một cái tên để bàn luận trong thế giới những người yêu bóng đá. Bàn luận đúng nghĩa chứ không phải con người để gây tranh cãi như Cristiano Ronaldo hay Messi, những thiên tài đương đại mà một nửa là ủng hộ viên, một nửa là những kẻ thù ghét. Với Cristiano Ronaldo và Messi, những kẻ thù ghét họ sẽ chỉ nhìn thấy sự thù ghét, và sẵn sàng bị nó che mờ mắt để phủ nhận tài năng mà họ đã có, đã minh chứng, đã ghi dấu. Cũng đơn giản thôi, vì họ bị đẩy thành 2 mũi đối đầu nhau suốt cả 1 thập niên dài, đối đầu đến mức kẻ thích người này chính là kẻ ghét người kia và ngược lại.
Còn Zidane thì khác. Những người không thích Zidane thì đầy rẫy nhưng không ai phủ nhận được ông. Và ông chỉ cần 1 trận thôi, trận thắng Brazil ở World Cup 2006, để thuyết phục tất cả. Đó chính là trận đấu đẹp nhất của Zidane trong sự nghiệp, khi ông khiến cả dàn sao Brazil, từ Ronaldo cho tới Ronaldinho, đều trở thành vai phụ. Và chính từ sự ghi nhận mà Zidane đã có ấy, người ghét Zidane gần như là không có, kể cả khi ông húc đầu vào ngực Materazzi ở chung kết năm ấy, cú húc đầu mà nhiều người cho rằng “ngu dốt, ích kỷ, ngạo mạn và thiếu chuyên nghiệp”. Họ có thể không ưa Zidane chứ họ không thể ghét ông. Đơn giản, Zidane là một cá nhân “lưỡng diện”: có cả khuôn mặt thánh thần lẫn khuôn mặt của qủy dữ.
Bây giờ Zidane đang nghỉ ngơi, sau khi đã trở thành HLV vĩ đại nhất của Real Madrid kể từ kỷ nguyên Florentino Perez. Ông sẽ có chọn lựa nào? Đó hầu như vẫn là một bí ẩn, nhưng bí ẩn ấy nhiều khi không khó đoán. Song, Zidane có về đâu đi nữa, thứ ông để lại cho đến bây giờ vẫn là một di sản quá lớn, một di sản mà chúng ta sẽ còn phải nhắc tới rất nhiều.

Người ta nói về Zidane bằng hai tiếng “may mắn” rất nhiều lần rồi kể từ khi ông ngồi lên ghế huấn luyện ở Santiago de Bernabeu. Cái sân vận động ấy có thể sẽ được đổi tên thành Florentino Perez không biết chừng, nếu như 3 chức vô địch Champions League liên tiếp mà ZIdane mang lại là nền móng để Lopetegui hoặc HLV nào đó sau này kế tục được và vượt qua thành tựu của Real thập niên (19)50s. Nhưng đó là chuyện của xa vời. Chuyện của Zidane không phải là may mắn. Không có ai may mắn liên tục đến thế suốt 3 lần liền. “Họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai”. Người ta vẫn nói thế mà tại sao cái phúc trùng lai của Zidane lại bị coi là một chuỗi may mắn phủ nhận toàn bộ nỗ lực.
Zidane thực chất không thể hiện ra một diện mạo bóng đá rõ ràng, như Pep Guardiola, như Mourinho, hay như Jurgen Klopp. Người ta sẽ nói thứ bóng đá mà Zidane đã huấn luyện là thứ bóng đá gì, với đặc trưng nào? Thực sự khó định nghĩa, nhất là khi người ta vẫn xem bóng đá theo kiểu cũ. Thực ra, bóng đá hiện đại đã khác nhiều rồi. Những cái gọi là bản sắc, là diện mạo, là định tính sẽ ngày càng hiếm hoi hơn khi sự chia sẻ kiến thức ngày một dễ dàng hơn, tốc độ hơn, rộng và sâu hơn. Các HLV sẽ dịch chuyển gần hơn nữa về việc xác định triết lý bóng đá hơn là diện mạo lối chơi. Từ triết lý bóng đá mà họ theo đuổi ấy, họ có thể phát triển nó theo cách nghĩ riêng của mình. Đơn cử như triết lý Transitional Play (chuyển đổi nhanh trạng thái) chẳng hạn. Diego Simeone, Mourinho, Klopp, Ranieri, Pochettino… đều theo đuổi triết lý ấy nhưng cách thực hành của họ lại khác nhau rất nhiều. Và chính cách thực hành đó (chứ không phải diện mạo đội bóng) định nghĩa thứ bóng đá của họ.
Zidane không phải ngoại lệ. Và ông đã thể hiện nó ở ngay trong lần đầu tiên trong đời dẫn dắt một CLB lớn. Real dưới tay của Zidane là một đội bóng “nhuyễn thể”, một dạng thủy ngân. Nó không định hình cụ thể lối chơi mà sẽ để từng trận cầu, với từng đối thủ, định hình lối chơi ấy. Và thuỷ ngân là một thứ kịch độc. Đụng vào nó, các đối thủ tổn thương cũng là chuyện bình thường.
Phải thừa nhận rằng, Zidane hiện là một HLV thay người rất xuất sắc. Trận chung kết Champions League 2018 vừa rồi là một minh chứng rõ nét nhất. Bale không phải cầu thủ có được thể trạng tốt nhất và Zidane không để anh ta trong đội hình xuất phát. Nhưng khi trận cầu bước sang hiệp 2, với bàn gỡ 1-1 của Sadio Mane, quyết định đưa Isco ra sân và tung Gareth Bale vào sân đã thay đổi tất cả. Bale đã có bàn thắng như múa ballet, bàn thắng phế bỏ vị trí bàn thắng đẹp nhất lịch sử các trận chung kết Champions League của chính Zidane. Đó cũng là bước ngoặt để Liverpool không thể gượng lại nổi và Karius với sự bối rối của kẻ thua cuộc đã trở thành một kẻ bị chế nhạo đáng thương đến tận bây giờ.
Trận chung kết đó, hiệp 1 gần như Real không phô diễn hết khả năng của mình. Họ giữ một lối chơi bình thản mà mục đích của nó là để tiêu hao sức lực của một Liverpool luôn mang thói quen nhập cuộc ào ạt cùng lối chơi gegenpressing chủ yếu dựa trên những pha quây, chặn, áp sát ở phần sân của đối phương. Nhưng khi trận đấu đã trải qua 2/3 thời gian, đồng nghĩa với việc Liverpool không còn đủ sức để theo đuổi lối chơi điên cuồng đến kiệt sức kia, Zidane mới tiến hành thay người, và bắt đầu để Real thể hiện sự nguy hiểm của mình. Đó là sự may, hay là cái khôn ngoan của một con người quá lọc lõi trên những vận động trường?
1 năm trước đó, cũng chung kết Champions League, trước Juve, Real cũng không quá nhiệt ở hiệp 1. Zidane thừa hiểu mỗi đối thủ đã vào được đến bán kết, chung kết Champions League ở thời đại này đều tiềm ẩn những nguy hiểm vô cùng. Nếu xem thường đối thủ, vùng lên mà đá như vũ bão, cậy vào sức mạnh hàng công của mình mà ngạo mạn, rất có thể chính Real sẽ phải trả giá. Và hiệp 1 các trận cầu lớn của Real dưới thời Zidane luôn là khoảng thời gian họ muốn bào mòn thể lực đối thủ vì sự thiếu kiên nhẫn của đối thủ ấy. Đó cũng là lúc Zidane mổ xẻ những nhược điểm mới chỉ xuất hiện của đối thủ ở ngay trong trận cầu. Từ đó, các quyết định điều chỉnh chiến thuật ở hiệp 2, các quyết định thay người của ông mới được coi là chuẩn xác và tinh tế. Cái đó là may mắn, hay là sự lọc lõi của một một người khôn ngoan với bề dày kinh nghiệm trận mạc trên các vận động trường?

Vậy thì bây giờ, khi Zidane ra đi, ông có để lại một Real hoang phế hay không, nhất là khi Cristiano Ronaldo cũng sang Juve? Lopetegui sẽ có những phương án khác, cách tiếp cận khác, cũng có thể là triết lý khác và lối điều chỉnh trong trận cũng khác. Thành hay bại, đó là câu chuyện của tương lai nhưng có thể nói, không ai có thể phủ nhận được Lopetegui thừa hưởng một di sản rất lớn mà Zidane để lại. Đó là một Real không cần Ronaldo nhưng vẫn tiềm ẩn những sức mạnh đáng kể, mà đáng kể nhất là Asensio, con người đang để lại dấu ấn rất lớn, con người đã trưởng thành rất nhiều dưới bàn tay Zidane, và đang cho thấy một hình ảnh của Zidane trong màu áo trắng thời đầu thế kỷ 21.
Trong trận thắng Juve 3-1 ở ICC 2018, Asensio càng cho thấy anh là cầu thủ quan trọng thế nào với Real. Không phải như Ronaldo, một cầu thủ tấn công có xu hướng chơi dạt biên với kỹ thuật và tốc độ tuyệt vời của mình, Asensio chơi rộng hơn, như một ông chủ, một bộ não trên hàng công. So sánh Asensio với Zidane thời galactico 1.0 tất nhiên là khập khiễng, nhưng nói gì thì nói, với tầm hoạt động rộng, khả năng kiến tạo cùng ý thức hỗ trợ phòng ngự của mình, chính Asensio sẽ là ngôi sao lớn của Real kể từ mùa giải này. Nhìn cách anh chơi ăn ý với tân binh Vinicius, chúng ta có thể hình dung tại sao Real vẫn còn bình thản như thế sau khi Ronaldo ra đi. Chính sách chuyển nhượng cầu thủ dưới 23 tuổi mà họ theo đuổi đang cho thấy nó là một công thức hiệu quả và khoa học, nhất là khi cầu thủ bước vào độ chín nghề nghiệp từ sớm như ở thời đại này. Và một trong những người tạo dựng ra nền tảng ấy cũng là Zidane, người đã mang Varane về Bernabeu năm xưa để bây giờ, Varane đã là nhà VĐTG và có thể được xem là một trong những trung vệ hàng đầu thế giới hiện nay.

Đúng là Zidane ra đi để lại một Real không Ronaldo cho Lopetegui nhưng hãy nhìn vào cái trục Varane – Casemiro – Asensio mà ông để lại cho người kế nhiệm mình. Tất nhiên, Real còn Ramos, còn Kroos, còn Modric, còn Bale… nhưng cái trục kia mới đúng là di sản của Zidane đúng nghĩa. Có Zidane, Casemiro mới trở thành cầu thủ trụ cột của Real 3 mùa giải qua. Có Zidane, Asensio mới là cái cây lớn lên mà không sợ bị yếm thế bởi cái bóng quá lớn của Ronaldo – Bale. Họ mới là tương lai của Real, chứ không phải một cầu thủ đã ngoài tuổi 30 như Ronaldo, cầu thủ bây giờ chỉ còn là hoài niệm.
Black – Blanc – Beur là cách mà người ta nói về tuyển Pháp suốt hơn 2 thập niên qua. Zidane là gì trong 3 chữ ấy? Ông là Beur, cách gọi ám chỉ những cầu thủ Bắc Phi. Và ông sẽ vẫn là một “beur” vĩ đại nhất của Les Bleus, một “beur” vẫn chưa thấy được ai sẽ là truyền nhân đủ sức chinh phục ngai vàng mà ông còn để trống.
Lẽ ra đã không thể có một Zidane như thế đối với bóng đá Pháp nếu số mệnh đã cho một lựa chọn khác. Và nếu số mệnh chọn lựa ngược chiều với những gì đã xảy ra, thậm chí chức vô địch lần thứ 2 ở Nga vừa rồi cũng chưa chắc đã tồn tại.
1953, mười bảy tuổi, chàng trai Smail Zidane bỏ xứ và làng, ngược lên phương bắc để tới nước Pháp. Ở Paris, ông đã phải ngủ ngoài trời tuyết lạnh trong tháng đầu tiên dù may mắn xin được việc làm ở 1 công trường xây dựng ở ngoại ô. Sau tháng đầu tiên, Smail chung tiền thuê một căn hộ và ở chen chúc cùng với những người cùng làng Aguemoune (miền bắc Algeria) cũng sang Paris lập nghiệp. Họ phải tằn tiện, phần lớn thu nhập đều được gửi về quê nhà cho gia đình. Họ không biết điều gì chờ đợi mình phía trước với thân phận của những người nhập cư đến từ thuộc địa của một đế quốc già nua. Với họ, mưu sinh là tất cả những gì họ nghĩ đến và tương lai cũng chẳng còn một khát vọng nào khác ngoài hai chữ mưu sinh ấy.
17/10/1961, một cuộc biểu tình tuần hành bất bạo động của những người Algeria ủng hộ Mặt trận giải phóng quốc gia (FLN, được thành lập năm 1954) xảy ra ở Paris. Đón tiếp dòng người ôn hoà ấy là những cảnh sát Pháp, với dùi cui, lựu đạn cay và súng. Cuộc đàn áp diễn ra gọn ghẽ, xác người đầy trên phố, xác người bị ném xuống sông Seine, dòng sông đỏ máu. 14 ngàn người nhập cư Algeria đã bị bắt giữ, Smail Zidane cảm thấy ngạt thở. Lần đầu tiên, nước Pháp với ông không chỉ còn là mưu sinh đơn thuần.
1962, Algeria giành được độc lập. Smail theo dòng người đi về phía Nam để hồi hương. Nhưng ông không bao giờ trở về được ngôi làng Aguemoune của mình. Ông kẹt lại ở Marseille, không phải vì lý do nào khác ngoài cái gọi là ái tình. Cô gái ấy tên là Malika, cũng đến từ Aguemoune. Và họ cưới nhau ở Marseille, chọn Castellane, khu ngoại vi phía bắc thành phố để sinh sống. Từ thân phận những người dân thuộc địa nhập cư, họ trở thành người nước ngoài trên đất Pháp. Nhưng 5 đứa con của họ thì không. Cả 5 đều là công dân Pháp hợp pháp sau này, mà người thứ 5 chính là Zinedine Zidane, người mà tháng 7/1998 gương mặt được chiếu trong hào quang ở Champs Elysees trong tiếng hô “Zizou Presidente” của hàng vạn cổ động viên Les Bleus.
Nếu biến cố tháng 10/1961 ấy, cái dòng sông máu ấy khiến Smail trở về Algeria thành công thì sao nhỉ? Ông có gặp bà Malika hay không? Nếu có gặp thì có sinh ra Zizou hay không? Và nếu có sinh ra Zizou, anh ta có chơi bóng đá hay không? Zizou có chơi bóng đá thì anh ta sẽ chơi cho màu áo nào: Algeria hay Pháp? Hàng loạt câu hỏi đó cho thấy số mệnh đã chỉ có 1 chọn lựa: Zizou phải là một “beur” của Les Bleus, và phải trở nên vĩ đại.
Cái thành phố mà Zidane lớn lên, thành phố mà người ta vẫn nói rằng “có 3 thứ quyền lực của Marseille là: bến cảng, tòa thị chính và CLB bóng đá OM”, đã dạy cho ông tất cả những mánh khoé, sự tinh ranh, cái lọc lõi của nó. Tất cả những thuộc tính ấy đã được Zidane đưa vào trong lối chơi của mình cũng như cách huấn luyện của mình sau này.
World Cup đầu tiên của Zidane ông ghi dấu ấn không chỉ từ những bàn thắng ở trận chung kết, mà bằng thẻ đỏ, trong trận gặp Arab Saudi, vì lỗi cố ý đạp lên ngực đối thủ khi đối thủ đã ngã. World Cup cuối cùng của ông trong màu áo cầu thủ cũng là dấu ấn của cái thẻ đỏ, bên cạnh trận đấu hay nhất sự nghiệp trước Brazil. Đó là cái chất tháu cáy của dân ngoại ô Marseille, chất tháu cáy của những người nhập cư luôn bị đưa ra ngoài lề xã hội. Nó là một phản kháng lại vốn được chất chứa từ những lần chống chọi lại với cuộc đời, chất chứa sâu trong tiềm thức. Đó cũng là một bộ mặt trong cái lưỡng diện của Zidane và bộ mặt đó khi đã xuất hiện, nó sẽ khiến người ta còn phải nhắc đến rất nhiều. Cái chất tháu cáy ấy cũng đã hiện ra vài lần khi Zidane làm HLV, mà điển hình nhất là lần bước lên sát đường biên cướp diễn đàn chỉ đạo trong ánh mắt lạ kỳ của Ancelotti. Khi ấy, hình bóng một HLV, một ông chủ đội bóng đã chính thức lộ diện rồi.
Với Les Bleus, nếu nhắc đến di sản của Zidane, có lẽ nhiều người sẽ chỉ nói đến chức vô địch 1998 và 2000, hoặc trận cầu tuyệt vời trước Brazil năm 2006. Nhưng thực chất, di sản của ông vượt xa rất nhiều. Nó không chỉ là di sản về chuyên môn mà còn là sự ghi nhận và ảnh hưởng văn hoá. Nó là một khẳng định dõng dạc của những dòng người nhập cư, mà một trong số đó, là chung tuyến đường ngược lên phương bắc của Smail Zidane 17 tuổi.
Thực chất, những trận đầu tiên của Les Bleus ở World Cup 1998 chưa thu hút người Pháp nhiều. Người Pháp mê rugby hơn bóng đá. Nhưng những chiến thắng, đặc biệt là những chiến thắng thần kỳ đến thót tim như bàn thắng vàng trước Paraguay, pha luân lưu cân não với người Ý của Baggio, cú lội ngược dòng kỳ dị trước Croatia đã khiến người Pháp hưng phấn hơn với Les Bleus của mình. Và tất nhiên, khi cơn hưng phấn lên đến đỉnh điểm, hai bàn thắng vào lưới Brazil trong trận chung kết của Zidane đã biến ông thành vị Vua mới đúng nghĩa.
Lịch sử bóng đá Pháp, từ lâu rồi, ở mỗi thời kỳ, đều có dấu ấn của những người nhập cư trong cơ thể Les Bleus. Từ Raymond Kopa cho tới Platini, từ Zidane cho tới Mbappe hôm nay, họ chính là diện mạo của Les Bleus. Bên cạnh những Blanc, tức dân da trắng, phải có những black (như Tigana, Vieira, Desailly, Thuram…) và cả beur, thứ “đặc sản bắc Phi”. Nhưng có lẽ, trừ Platini, một người nhập cư gốc Ý, sự ghi nhận cho những ngôi sao black & beur không nhiều. Chỉ đến khi Zidane xuất hiện, tất cả đều phải thay đổi. Nếu ở năm 1998 người Pháp hô vang “Zizou Presidente” thì ở 2018, cách ăn mừng của Les Bleus ở dinh tổng thống Pháp đã hoàn toàn khác. Nó thể hiện đúng những gì mà Les Bleus thể hiện trên sân: sự đa dạng về văn hoá.
Di sản của Zidane chính là điều đó: là sự ghi nhận đối với một cộng đồng ngoại vi, là sự khẳng định của những con người ngoại vi vượt trội, là tiếng nói cân bằng lại với hàng loạt vấn nạn xã hội mà dân nhập cư đã gây ra cho cơ thể nước Pháp. Nó làm người Pháp có phương tiện để thoát ra khỏi những dẫn dắt cực đoan, nhất là ở giai đoạn thế giới càng ngày càng ngập tràn trong những luồng thông tin không chân thực này.
Và chính sự khẳng định vị thế quyền năng của mình trong lòng Les Bleus, cùng với những người như 1 Thuram sinh ra lớn lên trên cánh đồng mía ở Guadeloupe; 1 Desailly sinh ra ở Accra – Ghana, Zidane đã góp phần định nghĩa lại định tính của Les Bleus. Chính người ta đã phải nhận xét về Les Bleus 1998 của Zidane là “bằng niềm say mê của mình, họ đã chứng minh khả năng kết hợp giữa người da trắng với người da màu, giữa dân bản địa và người nhập cư. Nó chứng minh rằng nước Pháp là một quốc gia không tồn tại được thói kỳ thị và một quốc gia đạt được sức mạnh từ sự đa dạng của chính mình”.
Chính nguồn cảm hứng Zidane đã khơi gợi cho rất nhiều thế hệ bóng đá sau này, như Benzema, Ben Arfa, Mbappe… Tất cả những đứa con của các gia đình nhập cư, với nguồn gốc có thể là black hay beur, với điều kiện sống ở những khu banlieues (ngoại ô) nghèo nàn, đều có quyền mơ ước một ngày mình thay đổi ngôi sao chiếu mệnh của số phận, bằng cách mà Zidane đã làm. Zidane chính là morphine của nước Pháp. Zidane cũng chính là doping cho người nhập cư. Zidane là hiện thân cho giấc mơ Mỹ phiên bản Pháp: giấc mơ đổi đời.
Và chính những con người như Zidane đã tạo ra một nền bóng đá dồi dào nhân tài tiếp nối bậc nhất thế giới hiện nay. Trên bản đồ xuất khẩu cầu thủ, Brazil, Argentina và Hà Lan đã không còn chiếm ưu thế nữa. Thời của người Pháp đã bắt đầu từ rất lâu rồi và bây giờ là thời của cả người Bỉ, người Đức nữa. Thời thế thay đổi, vì chính thế giới này đã thay đổi.
Trong cuốn sách The Mixer của Michael Cox, ở ngay chương đầu đã ghi nhận đại ý rằng “tầm ảnh hưởng của Cantona không chỉ nằm ở chỗ anh ta biến Man United thành một thế lực của Premier League mà còn là làn sóng kích thích các CLB Anh vốn dĩ khô cứng lao vào cuộc săn tìm những nghệ sỹ số 10 trên sân cỏ”. Cơn mê say những nghệ sỹ sân cỏ của người Anh hôm nay vẫn còn, khi họ vẫn bị mê hoặc bởi Hazard, bị ám ảnh bởi Cristiano Ronaldo, bị đắm chìm bởi De Bruyne… Nhưng có một thứ tài sản mà người Anh luôn thèm muốn chính là Zidane. Họ có thể biến Cantona thành một người Anh mang dòng máu bleus nhưng họ không bao giờ được thỏa cơn khát Zidane, dù chính Zidane từng nói rằng “được chơi cùng Paul Scholes là ước mơ lớn nhất”. Nhưng những nghệ sỹ sân cỏ Pháp lớn lên từ cảm hứng Zidane thì vẫn đổ về nước Anh qua mỗi thời kỳ và đó cũng là lý do có những người Anh hôm nay bắt đầu ví von Mbappe với Zidane (chỉ vì cái áo số 10) trong khi chàng trai trẻ ấy có thiên hướng của Ronaldo béo thì đúng hơn.

Di sản của Zidane với Les Bleus rõ ràng là quá lớn, chứ không chỉ đơn thuần trong một cái khung trẻ trung là những cầu thủ lấy cảm hứng đổi đời nhờ bóng đá từ thành công của ông, như Varane, Mbappe, Paul Pogba… hay là lối chơi đã thay đổi hoàn toàn so với 2016 mà Deschamps mới vừa áp dụng. Nhưng với di sản lớn lao như thế, Zizou có tương lai nào với Les Bleus hay không?
Đó là câu hỏi thú vị. Nó thú vị vì Zizou vừa thành công bằng chức vô địch Champions League lần thứ ba liên tiếp với Real, một kỷ lục chưa ai thực hiện được. Nó thú vị vì Deschamps vừa xuất sắc đưa Pháp lên ngôi vô địch thế giới bằng một lối chơi khôn ngoan, thậm chí đến mức lãnh cảm. Hai con người thành công với 1 vị trí mà cả hai cùng xứng đáng. Deschamps vẫn còn trong nhiệm kỳ, mà Zizou lại đang xả hơi. Có khi nào Zizou sẽ là người nối tiếp đồng đội của mình khi Deschamps cần nghỉ ngơi hay không, khi mà lịch sử Les Bleus chưa bao giờ có một HLV trưởng nào là “beur” hay “black” cả?
Đó là một câu hỏi thú vị còn chờ đáp án trả lời. Nhưng có một chi tiết mà chúng ta cũng nên quan tâm. Ông Smail Zidane đến Paris và làm việc ở công trường ngay Saint Denis, là nơi sau này là sân Stade de France mà tại đó con trai thứ năm của ông trở thành người thay đổi lịch sử bóng đá Pháp. Dường như cái tên Zidane đã gắn liền với Saint Denis, với Stade de France, với Les Bleus như là định mệnh. Vậy thì chúng ta hãy chờ đợi xem định mệnh ấy sẽ dẫn Zizou tới đâu, khi màu áo lam vẫn thèm khát có thêm những ngôi sao mới trên ngực, để khẳng định rằng họ xứng tầm ở vị trí trang trọng trong lịch sử bóng đá thế giới cùng những Brazil, Đức và Italia.