CHỨC VÔ ĐỊCH WORLD CUP THỨ 2 CỦA LES BLEUS: ĐỘ QUÁI CỦA DESCHAMPS

 

Sau trận chung kết, có quá nhiều người đã nói về thắng lợi của tuyển Pháp bằng cái nhìn tiêu cực. Chơi không đẹp là một loại ý kiến. Sai lầm của trọng tài là một dòng ý kiến khác. Thậm chí, có người còn nghĩ đến thuyết âm mưu và quy kết là “bán độ”, nhất là khi họ thấy chiếc cúp vàng được cất trong cái hộp của Louis Vuitton.

Ít ai biết rằng, Louis Vuitton tài trợ cho sự kiện, và ngay sau ngày vô địch, một loạt hình ảnh quảng cáo chụp chiếc cúp vàng trong hộp LV đã được chạy trên các báo, tạp chí. Nếu Croatia thắng, có lẽ hình ảnh ấy sẽ chỉ chạy ở đất nước của nữ tổng thống Kolinda Grabar-Kitarovic mà thôi và điều đó có nghĩa, từ một chiến dịch lớn (toàn cầu), có thể LV sẽ chuyển nó thành một chiến dịch nhỏ, cho một thị trường nhỏ hơn???

38144388_290482368369090_700804797166518272_n

Thật khó để kiếm tìm được những ý kiến ca ngợi Les Bleus, ở đặc tính chiến thuật. Cũng phải thôi, vì ai cũng mơ mộng về Pháp của một thời hào hoa phong nhã. Ngay cả những người khen Pháp cũng chỉ xoay quanh những cái tên như Griezmann, Mbappe, Pogba, Varane. Hiếm hoi nhận xét khách quan khen ngợi Didier Deschamps, một người đã thay đổi và hoàn thiện chính mình rất nhiều.

Chính Deschamps đã thừa nhận rằng năm nay ông đã suy nghĩ rất khác so với 2016, mùa EURO mà Pháp thua BĐN ở chung kết. Ông không còn muốn xây dựng một đội bóng khinh địch nữa. Thay vào đó là một Pháp thận trọng hơn, thực dụng hơn, thậm chí khô khan hơn. Nhưng thay đổi ấy là đúng so với thời đại. Nếu đêm Moscow Pháp khinh thường Croatia và muốn chơi áp đảo đối thủ, rất có thể Croatia mới là nhà tân vô địch.

Trước khi bàn về sự tinh quái của Deschamps, chúng ta nên lục lại phổ quát của bóng đá hiện đại trong việc xây dựng lối chơi (Creating Games Model). Để xây dựng lối chơi cho 1 đội bóng, HLV cần chú trọng 5 yếu tố cơ bản sau: Đội hình chiến thuật, khả năng và cá tính của từng cầu thủ, triết lý và mục tiêu chung, các nguyên tắc trong 4 trạng thái của đội bóng (tấn công, phòng ngự, đoạt lại bóng, hành động khi mất bóng) và ý tưởng cho trận đấu.

Đội hình chiến thuật, Deschamps trung thành với việc giữ sự ổn định của đội hình xuất phát 4-2-3-1 với vai trò của Pogba – Kante là tiền vệ phòng ngự mà trong đó, Pogba đảm nhiệm thêm vai trò tổ chức từ tuyến sau (deeplying playmaker). Ở phía trên, Griezmann là cầu thủ tổ chức (advance playmaker) và có tầm hoạt động rộng, nhiều khi có thể lui về hỗ trợ bộ đôi Pogba – Kante. Sơ đồ ấy có thể biến hoá thành 4-3-3 khi cần với vai trò cơ động của Matuidi. Cả World Cup, Pháp gắn chặt với cách xây dựng ấy, rất quy củ.

Khả năng và cá tính cầu thủ, Deschamps hiểu rất rõ. Đặc biệt ông quan tâm đến những cầu thủ trẻ như Pavard, Hernandez, Mbappe. Với Hernandez, ông tin tưởng vào sự bền bỉ, tính ổn định của anh và bởi thế, anh có thể leo biên hỗ trợ tấn công nhiều hơn Pavard, nhất là khi bên phía cánh trái, Matuidi luôn bọc lót tốt cho đàn em của mình. Cánh phải Deschamps lo ngại hơn vì kinh nghiệm của Pavard còn quá non. Và do đó, ông yêu cầu Pogba phải trám vị trí khi Pavard bị đối thủ vượt qua, hoặc hỗ trợ khi Pavard gặp đối thủ cao thủ hơn mình (như trận Bỉ). Cơ bản, Deschamps muốn Mbappe luôn có đủ không gian và thời gian để bùng nổ với những đường đột phá từ nách phải.

Hơn thế nữa, Deschamps quan tâm nhiều đến tính màu mè, rườm rà của Pogba và do đó, ông hạn chế cầu thủ của Man Utd hơn nhiều so với 2016. Ông không muốn Pogba làm vỡ nhịp thi đấu ổn định của đội hoặc mạo hiểm để đẩy đồng đội vào thế khó. Và Deschamps phải rất hiểu cá tính của Pogba nên mới có thể kiểm soát tốt cầu thủ bốc đồng này. Giải này, Pogba không chói sáng như kỳ vọng, nhưng thực ra anh chơi cực ổn định với điểm số nhận được mỗi trận luôn ở mức khá.

Về triết lý và mục tiêu chung, Les Bleus được Deschamps xác định rất rõ ràng ngay từ đầu. Mục tiêu của Les Bleus là phải vào bán kết. Và khi đã vào chung kết, mục tiêu chung là “phải vô địch”. Từ đó, họ xây dựng nền tảng triết lý là “thận trọng, khai thác hiệu dụng mọi tình thế, không coi nhẹ bất kỳ đối thủ nào, hiểu và đề cao vai trò của từng cá nhân, từng vị trí chứ không phải xây dựng đội bóng dựa trên vài trụ cột gánh vác cả đội”.

Chính vì thế, từ vòng bảng, chúng ta thấy rõ Pháp chơi không hề bùng nổ, tạo ấn tượng rằng họ có sức mạnh khủng khiếp. Nhưng những người am tường bóng đá đều nhìn vào họ và nhận định “đó mới là ứng viên vô địch số 1”. Pháp như con quái vật ẩn mình và khi người ta càng nhắc nhiều đến Bỉ, Anh, Uruguay thì Pháp càng có được lợi thế từ sự yên bình.

Từ triết lý ấy, ý tưởng cho các trận đấu của Deschamps rất mạch lạc. Đó là chủ động chơi thấp, chậm rãi, tạo lớp và khối ngăn đối thủ xâm nhập khung thành. Trong quá trình nhường bóng và sân chơi cho đối thủ ấy, Pháp tỉnh táo, tập trung để khi cướp được bóng, lập tức tổ chức tấn công/phản công chớp nhoáng dựa vào khả năng tăng tốc của Mbappe và sự hỗ trợ kéo giãn hàng phòng ngự, chia cắt tuyến phòng ngự với tiền vệ đối thủ của Giroud.

6 bàn thua của Pháp xảy ra thế nào càng minh chứng cho ý tưởng của họ. Trước Úc, họ thua vì penalty. Trước Argentina, trừ bàn thua cuối trận, Pháp thủng lưới vì sự xuất sắc của Di Maria và may mắn của Messi khi bóng đập chân Mercado. Trước Croatia, bàn gỡ hoà của Perisic cũng là tài năng và xuất thần của Perisic là chủ yếu. Lỗi phòng ngự của Pháp chỉ có 2 lần trả giá: 1 là bàn của Aguero xâm nhập đón đường bóng của Messi; 2 là sai lầm của Lloris khi bị áp sát và để mất bóng ngớ ngẩn.

Với ý tưởng chơi bóng mạch lạc như thế, Pháp không cầm bóng nhiều để đè bẹp đối thủ như bề trên, mà thay vào đó, họ cứ để đối thủ cầm bóng nhưng không thể tìm ra cơ hội xâm nhập trước một khối phòng ngự kỷ luật, khoa học. Và để thực thi ý tưởng của mình, họ tuân thủ tốt các nguyên tắc: phòng ngự chặt chẽ, kín kẽ; tấn công chớp nhoáng, tận dụng tốt mọi cơ hội kể cả tình huống cố định; khi mất bóng không quá vội vã để đoạt lại bóng ngay mà thay vào đó là thu hẹp không gian và thời gian chơi bóng của đối thủ; khi đoạt lại bóng thì triển khai bằng những đường chuyền nhanh, ít chạm và hướng lên trên.

Trong hệ thống như thế, với ý tưởng như thế, phải nói là Deschamps đã hưởng lợi cực nhiều từ Simeone. Simeone đã tạo Griezmann thành 1 chìa khoá cơ bản của lối chơi chuyển đổi nhanh trạng thái từ tấn công sang phòng ngự và ngược lại. Deschamps cũng dùng Griezmann y chang như vậy, nhưng không đặt áp lực săn bàn lên ngôi sao này. Thêm vào đó, ông khuyến khích Pogba, Hernandez có những đường chuyền vượt tuyến và không ít lần những đường chuyền như thế đã khiến đối thủ của Pháp toát mồ hôi hột.

Cả giải đấu, Pháp chỉ duy nhất 1 lần thay đổi cách tiếp cận nhưng cũng thay đổi chỉ trong thời gian ngắn. Đó là khi họ bị Argentina vươn lên dẫn 2-1. Nhưng khi đã có bàn thắng 4-2, Pháp lại quay lại với đường lối họ đã chọn từ đầu, và tiếp tục đường lối ấy cho tới tận trận chung kết. Cơ bản, một Argentina rệu rã không phải thuốc thử đủ để kiểm chứng Pháp nên chọn lối chơi phủ đầu.

Song, phải đến trận chung kết Deschamps mới lộ độ quái của mình. Khi Pháp dẫn 2-1 sau hiệp 1, họ hoàn toàn có cơ sở để duy trì lối chơi lạnh lùng đến vô cảm mà họ đang theo đuổi. Nhưng Deschamps nhận ra Kante đã có dấu hiệu xuống phong độ, nhất là khi anh đã lĩnh 1 thẻ vàng từ quá sớm (phút 27). Chính thẻ vàng ấy khiến các hoạt động tạo áp lực để đoạt bóng của anh bị hạn chế vì nhát chân.

Và khi Kante nhát chân, Deschamps hiểu phải thay anh ra. Nhưng ông đợi đúng thời điểm là phút 60, khi đã qua được 1/3 hiệp 2, ông mới đưa N’zonzi vào sân. Tại sao lại là thời điểm này, chứ không phải từ đầu hiệp 2? Đó là lúc bắt đầu Croatia đi vào giai đoạn xuống sức vì tuổi tác nhiều hơn Pháp, vì trải qua loạt knock-out khắc nghiệt trước đó. Tung N’zonzi vào khi đối thủ bắt đầu xuống sức, Deschamps được gì?

Đó là lúc Pogba được phép dâng cao hơn, và anh ta đã có bàn thắng. Và ngay sau đó là bàn thắng của Mbappe. Thực tế, nếu Deschamps không thực hiện việc thay người đúng thời điểm như vậy, họ có khả năng sẽ bị Croatia gỡ hoà, thậm chí có thể thua ngược.

Cũng phải nói thêm, ở nửa cuối hiệp 2 trận chung kết ấy, Matuidi cũng được đưa ra sân để một Tolisso trẻ trung, có tính chiến đấu hơn vào hỗ trợ cho Hernandez (vốn cũng dính thẻ vàng) ở hành lang trái. Pháp đã giữ được sự bền vững ấy, và từ đó dẫn tới sự bình tĩnh, thảnh thơi của kẻ dẫn bàn với khoảng cách an toàn. Chiến thắng cuối cùng, rõ ràng, là tâm phục khẩu phục.

Deschamps đã có những trận chung kết lớn trong đời huấn luyện của mình, và thất bại. Lần đầu tiên là 2004, ở Champions League, trước Mourinho và Porto. Nếu xem lại, chúng ta sẽ thấy Monaco ngây thơ thế nào. Lần thứ 2, 2016, trước BĐN, ở Paris, nơi Pháp phải đoạt cúp dưới áp lực phải chơi “trình diễn” cho khán giả nhà. Và họ thất bại khi BĐN không có Ronaldo.

Hôm nay, Les Bleus của Deschamps khác hẳn. Nó là một tập thể nhìn thì rất khó chịu, thậm chí chẳng mang tính giải trí chút nào. Nhưng để đánh bại nó, người khác sẽ cần một ý tưởng mạch lạc hơn, có sức thuyết phục hơn, và quan trọng là phải biết cách hiện thực hóa ý tưởng ấy bằng các cầu thủ trên sân.

Còn bây giờ, Coupe du Monde là của người Pháp. Còn chuyện nó nằm trong cái hộp Louis Vuitton, nó là việc của FIFA. Dù sao, cái Coupe du Monde đó nằm trong hộp LV cũng đẹp hơn là nằm trong một cái hòm thiếc màu bạc.

CHUNG KẾT WORLD CUP 2018: PHẢN ẢNH ĐÚNG HƠI THỞ THỜI ĐẠI

Bắt đầu bằng VAR, và kết thúc bằng VAR, đặc biệt là người thực hiện penalty từ VAR là 1 cái tên: Antoine Griezmann, World Cup 2018 qủa thực vô cùng kỳ lạ. Nó càng kỳ lạ hơn khi VAR ít được sử dụng ở vòng knock-out, đến mức có thuyết rằng FIFA phải dừng nó lại, bỗng nhiên xuất hiện ở trận quan trọng nhất: Chung kết.

Chúng ta sẽ nói về pha bóng chạm tay của Perisic ở cuối hiệp 1 dẫn đến việc trọng tài phải ra tham khảo video đến tận lâu về sau. Người yêu thích Pháp sẽ nói: Đúng, nó là công lý, và công lý phải được thực thi. Người yêu thích Croatia sẽ bảo: Sai, nó là tiêu cực, nó là sự ưu đãi dành cho nền bóng đá lớn hơn.

Vâng, chúng ta có quyền nói theo quan điểm của mình, nhất là khi ai cũng có thể theo dõi lại pha bóng đó hàng ngàn lần ở thời đại này. Nhưng, trước khi phán xét, chúng ta phải suy nghĩ đến nhiều yếu tố khác nữa, đặt mình ở nhiều cương vị khác nữa.

Trước bán kết 2, người Anh tin vào chiến thắng, đánh giá Croatia như “cương thi (zombie) đi trên sân”. Và họ trả giá, để chính Luka Modric đã phải tuyên bố rằng truyền thông Anh quá coi thường Croatia. Tuyên bố ấy, cay đắng thay cho người Anh, được đưa ra sau khi Anh bị Croatia loại ở bán kết.

Trước chung kết, L’Equipe giật 1 cái tít 1 bài báo ở trang ruột chuyên sâu về bóng đá Croatia rằng “Đất nước bé (về nghĩa đen, diện tích) nhưng có nền thể thao lớn”. Trong so sánh ấy, người Pháp cho thấy cả chuyện tennis, với những ví dụ từ thập niên 90 đến nay, vô địch Roland Garos lẫn Wimbledon, US Open, người Pháp đều thua người Croat. Thậm chí, có một bài riêng còn nói về Modric là “Chú cảnh khuyển trở thành đức Vua” (đừng nghĩ chuyện so sánh với chú cảnh khuyển theo cách ta tư duy Á đông đơn thuần vội).

Pháp tôn trọng Croatia, nên bỏ qua mọi ca ngợi về năng lực, sức lực để giữ nguyên lối chơi họ đã mang tới Nga: thận trọng, khó cảm thụ. Nhưng chính nó lại là điều khiến họ khác biệt so với các đội bóng lớn từng đối diện Croatia như Argentina hay Anh.

Và ở thế trận thận trọng như thế, chúng ta chỉ có thể thấy cuộc chơi xoay chiều theo từng tình huống cố định. Pháp mở tỷ số: cố định. Croatia gỡ hoà: từ tình huống cố định. Pháp nâng lên 2-1: VAR và cố định. Với những ai yêu bóng đá đẹp kiểu cũ, đó là một trận chung kết vứt đi. Nhưng hình như ít ai bỏ mắt khỏi màn hình thì phải? Nếu đúng, chứng tỏ trận chung kết ấy vẫn quá hấp dẫn.

Qua trận chung kết này, chúng ta phải thừa nhận rằng bóng đá kiểu cũ, tức cứ mạnh hơn, cầm bóng nhiều hơn, đè nén đối thủ liên tục thì kiểu gì cũng thắng (trừ phi bất hạnh) đã không còn nữa. Bây giờ, bóng đá là thời điểm. Bóng đá hiện đại có đầy rẫy con số thống kê kiểu chạy bao nhiêu km, chạm bóng bao nhiêu lần… nhưng vẫn không lột tả được đội bóng thắng cuộc cuối cùng chỉ là vì họ tận dụng tốt tình thế.

Các bàn thắng của chung kết đều là tình thế. Khi cả hai đội đều chơi quá chặt chẽ, tình thế được đội nào tận dụng tốt hơn, kết quả sẽ nghiêng về đội đó. Và hơn hết, với việc trọng tài không thổi còi rồi lại ra tham khảo video để cho Pháp nâng cơ hội lên 2-1 bằng pha penalty, rõ ràng, trận chung kết thể hiện đúng hơi thở của thời đại.

37928091_290480791702581_1832652834282143744_n

Đó chính là hơi thở của kỹ thuật, công nghệ, của khát vọng vươn tới sự chính xác để công bằng phải được thiết lập, và vượt trên hết là sự dũng cảm của một con người ở thời đại cả xã hội đều có quyền tuyên ngôn (nhờ mạng xã hội) này.

Nếu trọng tài bỏ qua, không tham khảo video, có thể ông sẽ nhận được ủng hộ của những ai ủng hộ Croatia nhưng song song đó, ông sẽ bị nguyền rủa bởi những ai yêu Pháp. Ngược lại, khi ông tham khảo, ông đứng trước nguy cơ bị rủa xả và được động viên của những người ở chiều ngược lại.

Dĩ nhiên, video là bằng chứng, nhưng con người không phải cái máy. Đối diện áp lực dư luận là cực khó, nhất là áp lực với cường độ, mật độ liên tục trong thời gian ngắn. Nhiều người đã quyên sinh vì không chịu nổi sóng từ mạng xã hội. Thế nên, khi trọng tài quyết định như thế, ông được ghi nhận vì đã quá dũng cảm và quyết đoán.

Nếu ta là trọng tài, ta sẽ quyết định thế nào sau khi tham khảo? Nên nhớ, trọng tài chính vẫn có quyền quyết định cuối cùng. Có suy nghĩ nào thoáng qua để cân nhắc xem “cộng đồng nào đông hơn?” để tìm chỗ an toàn hơn cho quyết định của mình không?

Và ta nên nhớ, khi ta công khai một quan điểm, một quyết định trước công chúng, ta sẽ đối diện rủi ro. Nhiều người trong chúng ta lựa chọn im lặng, để né rủi ro ấy. Nhưng trọng tài trận chung kết đã chọn con đường khác, dù ông đứng trước mắt hàng tỷ người trên toàn cầu.

Xin nhớ, không có pha penalty ấy, Pháp chưa chắc có cơ hội ghi bàn thứ ba (Pogba) và bàn thứ tư (Mbappe). Bàn thắng bằng VAR đó chính là bước ngoặt của trận chung kết, nó khiến hiệp 2 khó khăn hơn, đặc biệt là khi Pháp vẫn kiên trì với lối đá cẩn trọng, câu kéo những sai lầm của Croatia. Chính trọng tài mới là người quyết định chức vô địch năm nay.

Và đó chính là bộ mặt thời đại mà trận chung kết thể hiện. Nó là một thời đại mà ai cũng có tận dụng quyền phát ngôn mà quên mất mình đang tư duy tức thời. Nó là thời đại công nghệ là công cụ đắc lực để hỗ trợ khiến cho ai đó có thể dũng cảm hơn. Nó cũng là thời đại sự can thiệp của công nghệ cao thách thức cảm tính của con người. Và nó cũng là lúc nhắc chúng ta xem đời trôi rất nhanh nhưng phải nghĩ chậm lại hơn một chút.

Chợt nhớ, nếu có VAR từ năm 1990, có chắc là năm đó Đức đã có thêm một ngôi sao trên ngực áo, còn Argentina thì không?

ARGENTINA: THẤT BẠI KHÔNG CHỈ LÀ MỘT WORLD CUP

(bài viết sau thất bại của Argentina trước Pháp ở World Cup 2018)

38085577_290469071703753_6021668191942475776_n

1994, khi kết quả thử nghiệm doping với Diego Maradona là dương tính, nhiều người đã hiểu rằng đó là dấu chấm hết cho một huyền thoại. Ở tuổi 34, không còn thêm cơ hội nào để hi vọng cậu bé vàng mang lại cho Argentina thêm một chức vô địch World Cup nữa. Ngày tháng ngắn ngủi ấy ở Mỹ vốn dĩ đã quá mong manh cho một giấc mơ, cuối cùng chỉ còn là một dấu chấm hết, rất buồn.

Phải 14 năm sau, Diego mới quay trở lại, để trở thành HLV của Argentina, với hi vọng một chương khác lại được mở ra. Chương ấy có được mở hay không, chúng ta cũng đã quá rõ.

Trước thời điểm của vụ thử doping dương tính 4 năm, Argentina vào trận chung kết lần thứ 2. Tiếng còi của trọng tài ở phút 84 mang lại cho Đức quả phạt đền mà Brehme đã tận dụng tốt cơ hội trời cho ấy vẫn còn để lại tranh cãi nhiều năm sau. Hình ảnh Maradona đứng khoanh tay, với chiếc huy chương bạc trước ngực, và cố nén để dòng nước mắt không trào ra còn lưu lại trong trí nhớ rất nhiều người.

Có lẽ, dòng nước mắt chực chờ bung trào của năm 1990 và cú ngã 1994 của Maradona là thứ mà anh phải trả, cho bàn tay năm 1986, bàn tay đã góp phần đưa đội bóng Nam Mỹ ấy lên ngôi vô địch lần thứ 2 trong lịch sử rất dài của mình. Kể từ năm 1986 ấy tới nay, chưa bao giờ Argentina có thể đón ngôi sao thứ 3 trên ngực áo của mình, dù họ đã trải qua rất nhiều thế hệ tài năng.

2006, ở Đức, trận tứ kết, trước chủ nhà. Riquelme đá phạt góc để Ayala băng xuống dứt điểm mở tỷ số. Không ai nghĩ Đức sẽ lội ngược dòng được ở thế trận ấy. Chỉ còn 18 phút nữa, Pekerman thay Riquelme bằng Cambiasso. Trước đó 1 phút, thủ thành Abbondanzieri cũng đã buộc phải rời sân vì chấn thương. Leo Franco vào thay Abbondanzieri. Bi kịch bắt đầu từ pha thay Riquelme ấy.

Pekerman chỉ còn 1 quyền thay người. Phút 79 ông rút Crespo ra sân nhưng không cho tài năng mới nổi Messi vào thay. Ông dùng Cruz. 1 phút sau Klose gỡ hòa cho Đức. Cuộc chiến kéo dài thêm hai hiệp phụ và ở loạt luân lưu, Ayala và Cambiasso thất bại. Argentina về nước trong nhiều tiếc nuối. Nếu họ thắng Đức, có thể kết cục ở 2006 sẽ rất khác, hoàn toàn khác.

Sau này, Pekerman từng kể lại “Đức quá mạnh trong không chiến, và đó là lý do tôi sử dụng Cruz”. Còn trước những đổ vạ cho rằng mấu chốt của cuộc chơi thay đổi khi Pekerman thay Riquelme, chính HLV Hugo Tocalli, người rất thân với Pekerman, đã nói “Thực tế, Riquelme bị đau. Chúng tôi biết cậu ấy quá rõ, từ năm 14 tuổi lận, từ khi cậu ấy còn chơi vị trí số 5 trong đội hình”.

Bốn năm sau đó, Maradona là HLV trưởng. Ở Nam Phi, Argentina khởi đầu không tệ, nhưng cũng chẳng quá xuất sắc. Tứ kết, đối thủ lại là Đức. Và Argentina chỉ trụ được 3 phút. Thua tan nát 0-4 trước đối thủ truyền kiếp, Argentina ở thời điểm độ chín đội hình đẹp nhất trở thành dấu hỏi kinh ngạc nhất. Người nước ngoài nhận xét rằng “ở vai cầu thủ, Maradona là kiến trúc sư tài năng nhất, còn ở vai trò HLV, ông ta ngây thơ đến tuyệt vọng”.

Còn báo chí Argentina, ngược lại với những gì chúng ta vốn nghĩ về họ, là họ không ưa Messi như đồn đoán bậy bạ, họ nhận xét ngắn gọn “lỗi không phải tại Messi. Lỗi tại chính chúng ta cứ rên rỉ thương khóc Diego (Maradona) quá lâu rồi”. Với Argentina, Maradona là ám ảnh thực sự, như một bóng ma của một hình nhân thiên thần.

Bốn năm sau, trong một mùa giải Brazil tan nát đến 1-7 trước Đức ở bán kết, Argentina không thể trả thù người Đức ngay tại Nam Mỹ. Họ đạt thành tích tốt nhất ở World Cup kể từ 1990: về nhì. Nhưng về nhì cũng có nghĩa là chẳng có gì. Dường như cái tên Argentina đã nói lên tất cả. Trong tiếng Ý, nó có nghĩa “bạc, hoặc được làm từ bạc”. Trong tiếng nói của người Argentina trận chung kết 2014, nó chỉ là huy chương bạc. Chấm hết.

Đó là 5 dấu mốc tiêu biểu của bóng đá Argentina kể từ năm 1990 tới nay. 5 dấu mốc: 1990, 1994, 2006, 2010 và 2014. Xen giữa nó là 1998, một năm rất đẹp khi Argentina loại Anh. Nhưng nó cũng chỉ đẹp tới đó mà thôi, trước khi Hà Lan và Denis Bergkamp cho người Argentina hiểu bóng đá châu Âu đã thay đổi thế nào.

Và giữa 1990 với 2014, đã bao nhiêu thế hệ tài năng của bóng đá Argentina xuất hiện. Nào là Simeone, Batistuta, Veron, là Gallardo, là Ortega, là Riquelme, là Crespo và sau này là Di Maria, là Messi… Những nhân tài ấy đủ năng lực để trước mỗi World Cup, họ xứng đáng ở poster quảng cáo của giải đấu như những kẻ mang trọng trách ứng viên vô địch. Nhưng Argentina không vô địch. Vì lý do gì? Đơn giản, vì ở Argentina, bóng đá là nạn nhân của tất cả.

6 CHƯƠNG SỬ BÓNG ĐÁ THĂNG TRẦM

Nếu có một lược sử cho nền bóng đá Argentina, người ta có thể chia nó thành 6 chương xếp lớp gối đầu qua nhau từ những năm 1860 cho tới nay. Mỗi chương ấy là một gương mặt, một hướng đi, một cá tính, một biến động và có lẽ, chương buồn nhất là những ngày đã qua, hay nói đúng hơn là 28 năm qua, kể từ World Cup 1990.

Chương đầu tiên là những ngày lập quốc, những ngày khai sinh một quốc gia và cũng từ đó, khai sinh một nền bóng đá bắt đầu biết tách mình ra khỏi ảnh hưởng thuộc địa. Chương thứ hai, không có chức vô địch thế giới nào, từ năm 1930 cho tới năm 1958, nhưng lại là một trong những chương tuyệt đẹp với những ký ức vàng son của giai đoạn bắt đầu nền bóng đá chuyên nghiệp, đẹp mắt và thiên thần.

Chương thứ ba, từ giai đoạn 1958-1973, là giai đoạn những ngây thơ đã chết. Thứ bóng đá phản bóng đá (anti-futbol) lên ngôi cùng sự nổi lên của bạo lực sân cỏ, của những nhóm ultra được gọi là barra brava. Chính những barra brava ấy, với cách cổ động máu lửa của mình đã đòi lại được phần nào quyền công bằng cho các đội khách ở giai đoạn nền bóng đá bị lũng đoạn bởi nạn mua trọng tài, dàn xếp tỷ số.

Và chương thứ tư, chương đẹp nhất, từ 1973 cho đến 1990, chương của Kempes, của Diego Maradona, chương của hồi sinh và hi vọng, chương rơi đúng vào giai đoạn kinh tế Argentina tăng trưởng mạnh mẽ đủ để nuôi dưỡng nền bóng đá giàu tài năng của mình. Hai lần Argentina thoát khỏi chính mình (thoát cái chữ bạc để lên vàng) cũng rơi vào chương này, chương mà rất nhiều người ở các quốc gia khác cũng bắt đầu yêu Argentina đến vô cùng.

Nhưng từ 1990 tới nay thì lại là một chương đen tối dù tài năng đẳng cấp thế giới của họ lúc nào cũng sẵn, thậm chí là dư thừa. Và nếu nhìn vào chương đen tối này, chúng ta sẽ thấy chưa có nền bóng đá chuyên nghiệp nào lại nực cười như thế cả.

Kể từ năm 1991, AFA đã tiếp cận Television Satelital Codificada để bán bản quyền truyền hình cho tập đoàn truyền hình này. Có thể nói Argentina là một trong những quốc gia bán bản quyền truyền hình sớm nhất. Nhưng cũng từ năm 1990, nền kinh tế Argentina đã bắt đầu có dấu hiệu đi xuống khi giá cả hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn rất nhiều khiến những nhà máy, doanh nghiệp cỡ nhỏ lâm vào tình trạng khó khăn. Và đó chỉ là khởi đầu của bi kịch, một bi kịch của sự mở màn cho đổ vỡ của chủ nghĩa tân tự do trên thế giới ngày hôm nay.

NỀN BÓNG ĐÁ THỂ HIỆN BỘ MẶT XÃ HỘI

Năm 1994, sự mất giá của đồng peso Mexico trong cuộc khủng hoảng có tên Hiệu ứng Tequilla đã khiến khủng hoảng lây lan ra khắp Nam Mỹ mà Argentina không thể tránh khỏi. Thất nghiệp tăng cao, đình công kéo dài. Những nhóm barra brava không còn đến sân để ủng hộ đội bóng đơn thuần nữa. Thay vào đó, họ gắn liền với hoạt động tội phạm có tổ chức nhiều hơn.

Nếu ký ức tươi đẹp ngày xưa barra brava đấu tranh vì quyền lợi CLB, biến sân vận động thành nhà hát thực sự thì bây giờ, họ buôn lậu, bán ma túy, bảo kê hoạt động bán những vật lưu niệm, bãi đỗ xe quanh sân. Bóng đá đã chỉ còn là thứ yếu.

Nhưng đó chưa phải là bi kịch lớn nhất. Năm 2009, trước tình trạng quá nhiều CLB nợ nần đến mức có thể phá sản, AFA tiếp cận Television Satelital Codificada (TSC) để đàm phán về bản quyền gia hạn hợp đồng tới 2014. AFA muốn có thêm 720 triệu peso để bảo trợ cho các khoản nợ của các CLB. Television Satelital Condificada từ chối. Trước đó họ đã trả 230 triệu peso cho AFA rồi và họ không muốn trả thêm nữa để bóng đá Argentina tiếp tục trên sóng truyền hình cáp TyC.

Ngay lập tức, chính phủ của nữ tổng thống Cristina Kirchner vào cuộc. Một chào giá 600 trỉệu peso một năm, cho tới năm 2014. AFA lập tức phá bỏ hợp đồng với TSC để bắt đầu một chương trình mới với chính phủ có tên Futbol para todos: bóng đá cho tất cả. Ngày 20/08/2009, Diego Maradona (lại là ông), ngồi cùng chủ tịch AFA Julio Grondona và tổng thống Kirchner trên truyền hình với tuyên bố: “bóng đá Argentina từ nay miễn phí trên truyền hình toàn quốc”.

Chủ tịch Boca Juniors khi ấy, và là đương kim tổng thống Argentina hôm nay, ông Maurocio Macri đã phát biểu khi ấy rằng “bóng đá nên tách rời ra khỏi chính trị. Cái cách chính phủ bảo trợ bóng đá như thế cuối cùng cũng chỉ là dùng bóng đá để tuyên truyền (propaganda)”. Còn cựu danh thủ Veron thì nhận xét “nếu chính phủ thích bóng đá và cung cấp nó miễn phí thì tốt thôi. Nhưng thú thực, đừng có ủng hộ bóng đá bằng mọi giá, khi mà tiền ấy xây bệnh viện và trường học thì tốt hơn”.

Bóng đá Argentina từ chuyên nghiệp rất sớm đã rơi vào bao cấp (trá hình) ở vào thế kỷ 21 theo cách như thế, một cách mà người ta gọi là đòn dân túy của bà Kirchner. Cơ bản, việc quan tâm đến bóng đá của bà chẳng qua để phản công lại Grupo Clarin, một tập đoàn truyền thông vốn chống lại bà Kirchner. Bà hi vọng bóng đá miễn phí sẽ ru ngủ những người thất nghiệp, những nông dân đang không thu lợi suất tốt nhất từ mùa màng khi chính sách tăng thuế xuất khẩu lúa mì của bà để ép giá lúa mì trong nước đã biến Argentina từ nước xuất khẩu lúa mì thứ 3 thế giới tụt xuống thứ 10.

Và các CLB Argentina đã chết theo cách được bơm tiền kiểu đó. Hoạt động thương mại của CLB đình trệ, doanh thu của CLB chỉ còn phụ thuộc vào đúng 1 chuyện: chuyển nhượng cầu thủ sang châu Âu. Nhưng trong hoàn cảnh nguồn thu không còn sung mãn như xưa, công tác đào tạo của các CLB cũng giảm sút và Argentina không còn là nguồn xuất khẩu cầu thủ béo bở như Bỉ, Pháp như ngày xưa nữa.

Và khi hoạt động thương mại của CLB không còn nhộn nhịp nữa, những nhóm barra brava cũng bắt đầu thò tay vào các vụ chuyển nhượng. Chỗ nào có tiền, chỗ đó có barra brava mà. Đỉnh điểm là vụ chia rẽ ở nhóm barra brava của River Plate có tên Los Borachos del Tablon sau khi thủ lĩnh Luis Pereyra bị bắt vì cáo buộc giết người. Hai nhân vật cộm cán là Adrian Rousseau và Alan Schlenker đã gây chiến giành ảnh hưởng. Kết cục là 2 trận chiến lớn có tên trận Quinchos và trận Playon. Gonzalo Arco, cánh tay phải của Rousseau bị bắn chết. Sau này, nhiều nghi vấn được đặt ra rằng vụ thủ tiêu này liên quan đến chuyện ăn chia tiền bán Gonzalo Higuain sang Real Madrid.

Với một nền bóng đá trì trệ như thế, chúng ta có thể hiểu rằng tại sao Lionel Messi không cách nào dẫn dắt đội tuyển Argentina đi tới cái đích cuối cùng ở World Cup. Bóng đá Argentina được cấu thành từ chủ nghĩa cá nhân và lối chơi cảm hứng rực lửa. Thứ bóng đá Messi học được từ Barcelona là thứ bóng đá vì tinh thần tập thể. Messi hiểu phải dung hoà nó thế nào nhưng khi về lại ĐTQG, thực sự anh khó có thể làm điều đó khi bản thân mỗi danh thủ chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng của một nhóm barra brava nào đó. Và kết quả, anh phải quay trở về với chủ nghĩa cá nhân, thứ mà anh càng cố gắng bao nhiêu, thất bại trong màu áo đội tuyển càng lớn bấy nhiêu.

Có nhiều lý giải vì sao Higuain, Dybala hay Lo Celso không được trọng dụng ở World Cup vừa rồi. Thậm chí, chuyện Aguero vào sân hay không cũng phải đợi HLV hỏi ý kiến Messi. Chúng ta có thể nghĩ Messi quyền lực đen hay định lật đổ Sampaoli nhưng chúng ta cũng nên hiểu, Messi chưa chắc đã chơi tốt hơn nếu cầu thủ anh đưa vào sân không thuộc dây barra brava với mình.

Nhắc đến bóng đá Argentina, hôm nay người ta vẫn còn nói đến Marcelo Bielsa. Vậy thì tại sao ông chưa quay lại ĐTQG để cứu vớt nó. Bielsa có nói một câu rất hay, rằng “mọi ý tưởng bạn nói ra trong mắt người khác, chỉ là thứ suy nghĩ của thằng điên, cho đến khi nào bạn thành công thì mới khác được”. Vâng, Bielsa, một thiên tài được những Pep Guardiola, Pochettino, Klopp… tôn làm bậc thầy, vẫn bị gọi là kẻ điên (El Loco) ở chính quê hương mình. Vậy là chúng ta đủ hiểu nền bóng đá ấy rối rắm đến mức nào rồi.

EL RONDO – KHI CHIẾN THUẬT ĐẮM MÌNH TRONG LÃNG MẠN

El Rondo, một từ khoá, nếu search trên youtube, có thể dẫn các bạn đến với những đoạn video bóng đá mà các bạn sẽ thốt lên “À, đá ma (kiểu miền Bắc)” hoặc “Ồ, đá banh khờ (kiểu miền Nam)”.

Và thế là bạn tự tin nghĩ rằng, hoá ra El Rondo chỉ có mỗi thế, cũng chỉ là một bài tập đá ma 8 đánh 2 một chạm, chẳng có gì ghê gớm cả. Nhưng thực sự, Rondo là một thực hành của triết lý bóng đá, mà không có nó, sẽ không có những thành tựu của bóng đá hiện đại hôm nay. Nói cách khác, nó là yếu quyết cơ bản để tạo nên triết lý kiểm soát bóng. Và hơn nữa, khi nó là yếu quyết của kiểm soát bóng, nó sẽ kích thích đối thủ của nó (tức là triết lý kiểm soát thế trận, triết lý pressing…) phát triển. Vì thế, El Rondo chính là một viên gạch quan trọng giúp cho bóng đá phát triển mạnh mẽ như ngày hôm nay.

Đầu tiên, phải hiểu khái niệm Rondo là gì. Đó là tên gọi của một loại hình tác phẩm âm nhạc, thường là chương cuối của một Sonata hay một Concerto với đặc điểm rất cụ thể là sử dụng một chính đề âm nhạc (principle theme) được lặp lại. Chính Rondo cũng là thứ được phát triển từ Rondeau, một thể thơ thời phục hưng của Pháp, với các câu lặp lại đúng vị trí và thứ tự và sự lặp lại của Rondo (âm nhạc) cũng thế. Tất nhiên, trong âm nhạc, ở Rondo còn có cả đối đề tồn tại trong các dạng thức ABACABC chẳng hạn…

Và Rondo (Rondeau) còn ảnh hưởng rất nhiều đến âm nhạc, thi ca sau này. Ví như bài thơ của Guillaume Apollinaire, có tên L’ADIEU mà Phạm Duy có phổ nhạc từ bản dịch của Bùi Giáng (một bản dịch rất dở – vì bài gốc 5 câu, ông Giáng dịch thành 6 câu) như sau:

J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends

Ta đều thấy sự ảnh hưởng của Rondeau khi lặp lại cái theme brin de bruyère ở câu thứ tư so với câu đầu tiên.

Nhưng thú vị nhất là việc Rondo tạo được ảnh hưởng trong bóng đá, để trở thành El Rondo. Và ai là người đặt cái tên El Rondo này cũng thực là tay trác tuyệt trong thiên hạ. Sự lặp lại cần có (refrain) của Rondo âm nhạc ư? Có ngay, bằng những đường một chạm qua lại, thậm chí chạy theo một routine. Các đối đề bất ngờ ư? Cũng có luôn, như những quả chọc khe bất thần chuyển hướng routine vốn dĩ. Nhìn những cầu thủ thiên tài khởi động 8 đánh 2 trong vòng tròn El Rondo, ta phải thừa nhận rằng họ nhịp nhàng không khác gì thi ca hay âm nhạc.

Và khi nhắc đến El Rondo, chúng ta lại lần nữa phải cảm ơn Barcelona. Chính CLB ấy là nơi đầu tiên giới thiệu cái gọi là El Rondo, không phải thời của Johan Cruiff, với tuyên bố nổi tiếng “Khi bạn có bóng, bạn sẽ nghĩ đến ghi bàn. Nhưng thực ra, khi bạn có bóng, bạn có 2 vấn đề phải đối diện: một là làm sao để ghi bàn và hai là làm sao để kiểm soát được quả bóng ấy”. Và nó càng không phải thời của Pep Guardiola, người luôn được các cầu thủ Barca nhớ đến nhờ hai câu dạy dỗ “La Intencion no es a mover la pelota, sino a mover a oposicion” (mục tiêu không phải là di chuyển qủa bóng, mà là di chuyển chính đối thủ của mình) và câu “Khi nhận được bóng thì chuyền luôn đi các cậu ơi”. Người cần được ghi nhận phải là Laureano Ruiz, một HLV vô danh, người chỉ dẫn dắt tạm quyền ở Barcelona có 6 trận. Sự nghiệp của ông với Barca chủ yếu là đội trẻ, Barca Juvenil A và các lớp juvenil khác của CLB. Chính ông, vào năm 1972, đã giới thiệu El Rondo lần đầu tiên. Và ông cũng là người đầu tiên đặt nền tảng cho toàn bộ các lứa trẻ của Barca tập theo sơ đồ 3-4-3. Ông được nhớ đến ở Barca với câu hỏi thách thức toàn bộ hệ thống rằng “Đến lúc nào thì chúng ta mới dạy lũ nhỏ chơi bóng đây khi mà suốt ngày chúng ta chỉ dạy bọn nó chạy và chạy”. Rõ ràng, trước Ruiz, mọi người đều hiểu Barcelona “Ăng-lê” đến mức độ nào.

Và El Rondo, sau hơn 40 năm tồn tại mạnh mẽ, đã để lại những ảnh hưởng vĩ đại. Chính Johan Cruiff đã nói “Tất cả những gì diễn ra trong một trận cầu, chỉ trừ dứt điểm, bạn đều có thể thực hiện với Rondo. Nó bao gồm từ các tranh chấp, ganh đua để tạo không gian chơi bóng khi đang kiểm soát bóng; các hành động cần có khi không có bóng; cách chơi bóng một chạm; cách phản ứng lại khi bị kèm quá chặt cho tới cả việc làm cách nào để giành lại bóng”. Có thể, Cruiff không phải là chân lý nhưng nó luôn rất đáng để tham khảo. Và các chuyên gia bóng đá nổi tiếng hiện nay trên thế giới đều nhận định rằng “kiểm soát bóng, mà đại diện là rondo, và chơi vị trí là hai nền tảng cơ bản của bóng đá hiện đại hôm nay”.

Vậy thì chung quy cho cùng, El Rondo là gì, nếu như nó không phải là bài tập đá ma? Đây là câu hỏi lý thú bởi cho đến nay, rất nhiều người vẫn nghĩ rằng El Rondo chỉ là bài khởi động vòng tròn 8 đánh 2 một chạm đơn thuần. Nếu nghĩ vậy, chia buồn với bạn vì bạn thất bại trong việc lọt vào 2% cao qúy của Xavi. 2% ấy là gì? Xavi nói “Trong 95% người mê bóng đá trên toàn cầu, chỉ có 2% hiểu thực sự sâu sắc về bóng đá. Tôi có người bạn thân, anh ta có thể kể vanh vách các sự kiện, dữ kiện nhưng rất tiếc, anh ấy chả biết mẹ gì về bóng đá”.

Các bài tập El Rondo không chỉ đơn giản là 8 đánh 2 mà còn có 3 vs 1; 5 vs 2; 5 vs 5+2… Và mục tiêu cơ bản của các bài tập ấy là gì? Đó chính là tập quen cách xử lý bóng nhanh, kiểm soát bóng an toàn và mở các hướng thâm nhập phòng tuyến đối phương dựa trên nguyên tắc tận dụng ưu thế vượt trội về quân số. Thêm vào đó, nó cũng tập quen cho cầu thủ các kỹ năng tranh chấp đoạt lại bóng khi mình đang ở trong nhóm yếu thế hơn về quân số. Và El Rondo cũng khác một chút với tập chơi vị trí (positional play) ở chỗ chơi vị trí dựa trên các bài tập ở các không gian sắp xếp sẵn và cố định còn El Rondo dựa trên các bài tập với các trạng huống cụ thể và khu vực có thể thay đổi: tấn công, phòng ngự hoặc tổ chức…

Lợi ích của El Rondo mang lại rất cụ thể. Với cá nhân, nó giúp cầu thủ nâng cao kỹ năng chuyền bóng, bật tường một hai, chuyền bóng 1 chạm và quan trọng nhất là khả năng ứng biến. Còn với chiến thuật, nó giúp dội bóng làm chủ tốc độ và nhịp điệu chơi bóng (Tempo and rhythm); nhận ra tầm quan trọng của sự áp đảo quân số ở khu vực bóng hoạt động; kiến tạo ra các khả năng chuyền bóng an toàn (passing line creation)… Và khi áp dụng trong trận đấu, El Rondo cho phép đội bóng tạo ra lợi thế quân số trong các tình huống cụ thể như 3 đánh 1; 4 đánh 2; 5 đánh 3… Ví dụ, nếu đội bóng chơi 4-3-3 và đối thủ chơi 4-2-3-1, rõ ràng, ở trung tâm hàng tiền vệ, chúng ta có 3 người và họ có 2 người. Như vậy, chúng ta cần quan tâm đến lợi thế quân số này và nếu nhuần nhuyễn El Rondo, việc chiếm giữ khu trung tuyến hoàn toàn có thể là chuyện trong tầm tay (xem hình chú thích dưới comment).

Đặc biệt, trong các không gian hẹp, việc duy trì kiểm soát bóng rất cần nhuần nhuyễn kỹ năng El Rondo. Và mỗi khi chúng ta xem những nét nhịp nhàng của quả bóng được điều chuyển giữa những đôi chân điệu nghệ, chúng ta có thể tưởng tượng ra một tiết tấu, và tấu lên một giai điệu trong đầu mình. Tất nhiên, chúng ta không nói đến thứ tiqui-taca hơi monotone của Pep Guardiola, một người đã lai tạp El Rondo với Positional Play và đạt thành công với nó. Đó là thứ bóng đá ru ngủ, chứ không phải một El Rondo thực sự, thứ mà Cruiff đã từng thể hiện ở Nou Camp với đoàn quân lẫy lừng, nào là Stoichkov, Romario… và không ít người trong chúng ta, nhờ họ, đã tìm đến và yêu bóng đá.

38085368_290461418371185_3302418886678282240_n